Người Hải Phòng đấy !
Cập nhật lúc11:52, Thứ Tư, 08/11/2017 (GMT+7)

Những người hoạt động trong lĩnh vực văn học nghệ thuật của thành phố Cảng đều tự hào nói như vậy khi biết thông tin về 3 trong số 113 văn nghệ sĩ của cả nước được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2017. Đó là Giáo sư, NSND Trần Bảng, tác giả, đạo diễn, nhà nghiên cứu chèo Trần Đình Ngôn và đạo diễn điện ảnh Phạm Nhuệ Giang. Lý do để tự hào đến từ điểm chung của 3 văn nghệ sĩ này, họ được sinh ra hoặc gắn bó phần lớn thời gian sự nghiệp tại Hải Phòng.

 

Những người con của Cổ Am

 

Điều đặc biệt hơn, 2 trong số 3 văn nghệ sĩ được trao giải thưởng danh giá đợt này là những người con của xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo. Giáo sư, NSND Trần Bảng sinh năm 1926, quê ở xã Cổ Am, được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh. Ông là con trai nhà văn Trần Tiêu, cháu ruột nhà văn Khái Hưng (thành viên nhóm Tự lực Văn đoàn), cha đẻ NSƯT, đạo diễn sân khấu Trần Lực. Ông được nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật đợt đầu năm 2017. Người ta vẫn nhắc tới NSND Trần Bảng với cái tên “ông trùm chèo thời nay”. Đủ để thấy, vị trí của người con Cổ Am trong làng chèo cả nước như thế nào.

 

 

 

 

 

 

 

NSND Trần Bảng.

Sinh ra trong gia đình Tây học và văn chương nổi tiếng của huyện Vĩnh Bảo. Hơn hai mươi tuổi Trần Bảng đỗ tú tài Tây, thông thạo Hán Nôm và tiếng Pháp. Ông tham gia kháng chiến chống Pháp với hoạt động viết, diễn kịch nói ở đội Tuyên truyền Sao Mai xã Cổ Am, rồi sau đó được đưa lên Đoàn Văn công Nhân dân Trung ương trên chiến khu Việt Bắc. Đoàn Văn công Nhân dân Trung ương được thành lập cuối năm 1951 ở bến Canh Nông, Tuyên Quang hồi ấy hội tụ những tên tuổi lừng lẫy của văn nghệ kháng chiến như Thế Lữ, Song Kim (tổ kịch), Nguyễn Xuân Khoát, Lưu Hữu Phước, Doãn Mẫn, Thái Ly (tổ ca múa nhạc), Năm Ngũ, Dịu Hương, Cả Tam (tổ chèo). Từ say mê bi kịch Hy Lạp, kịch cổ điển Pháp, Trần Bảng bắt đầu nhập tâm và đắm đuối với chèo. Cuối năm 1952,  ông nảy ý định làm vở chèo từ câu chuyện có thật cảm động mà ông chứng kiến trong chuyến đi thực tế tại Bắc Giang. Ông kết hợp với các nghệ sĩ Năm Ngũ, Dịu Hương viết đề cương và dựng vở “Chị Trầm”, sau này được coi là vở chèo hiện đại đầu tiên của sân khấu chèo cách mạng.

 

Những người gắn bó với nghệ thuật sân khấu chèo kể lại, đêm công diễn “Chị Trầm” ở ATK, Bác Hồ cùng các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng đến xem. Khi vở diễn kết thúc, Bác Hồ yêu cầu khép màn lại, trực tiếp bước lên sân khấu thưởng kẹo các nghệ sĩ và khen ngợi: Phường chèo này hát hay lắm!. Hôm sau, Trần Bảng với tư cách là người phụ trách Đoàn và tác giả vở diễn vinh dự được Bác Hồ mời cơm. Trong bữa cơm, Bác Hồ khen Trần Bảng còn trẻ mà biết yêu vốn nghệ thuật cổ truyền của dân tộc và ân cần căn dặn: “Chèo là viên ngọc quý, phải ra sức học, đặc biệt là phải học các nghệ nhân để hiểu sâu và nắm vững nghề chèo”.

 

Đạo diễn Nhuệ Giang (phải) trên phim trường.
Đạo diễn Nhuệ Giang (phải) trên phim trường.

Người con thứ hai của Cổ Am được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật đợt này là đạo diễn điện ảnh Phạm Nhuệ Giang. Bà sinh năm 1957, là con gái NSND, đạo diễn điện ảnh, cánh chim đầu đàn của nền điện ảnh cách mạng Việt Nam Phạm Văn Khoa. Tuy vậy, để đến được với điện ảnh và thành công như ngày nay, Nhuệ Giang phải trải qua nhiều vất vả để khẳng định mình. Dù là “con nhà nòi”, nhưng Nhuệ Giang lại lập thân bằng cách thi vào Đại học Xây dựng rồi trở thành kỹ sư xây dựng cho Công ty Xây dựng số 1 Hà Nội. Cho tới năm 25 tuổi, Nhuệ Giang nhận ra mình không phù hợp chuyên ngành về vôi thầu gạch vữa. Bà quyết định thi vào khóa đầu tiên của khoa đạo diễn Đại học Sân khấu - Điện ảnh. Quyết định này đưa bà đến gặp đạo diễn Nguyễn Thanh Vân, người bạn đời sau này và giúp bà được sống với tình yêu nghệ thuật. Ra trường, Nhuệ Giang về làm việc tại Hãng Phim truyện Việt Nam và trở thành nữ đạo diễn duy nhất của hãng đến thời điểm này. Năm 1996, đạo diễn Nhuệ Giang làm phim nhựa đầu tay từ truyện dài “Bỏ trốn” của nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn kể về em bé bỏ trốn khỏi nhà, sống vô gia cư trên đường phố. Giải B của Hội Điện ảnh Việt Nam năm 1996, giải của ban giám khảo LHP quốc gia lần thứ 12 năm 1999 dành cho “Bỏ trốn” ghi nhận sự thành công của đạo diễn trẻ Nhuệ Giang giai đoạn ấy. Song, bộ phim đánh dấu bước ngoặt trong cá tính sáng tạo của Nhuệ Giang lại là “Thung lũng hoang vắng” nói về cuộc sống của những giáo viên vùng rẻo cao.

 

Hai người con của Cổ Am ghi lại dấu ấn của mình trong sự nghiệp với phần thưởng cao quý mà những người hoạt động văn học nghệ thuật đều mơ ước. Hơn thế, họ còn là niềm tự hào của Hải Phòng và quê hương Vĩnh Bảo khi có những đóng góp đặc biệt trong đời sống văn hóa cả nước.

 

“Coi như là” người Hải Phòng…

 

Người thứ 3 được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh năm nay là người khá đặc biệt của Hải Phòng. Ông không sinh ra ở Hải Phòng, nhưng bạn bè vẫn gọi ông “coi như là” người Hải Phòng. Cũng bởi tác giả, đạo diễn, nhà nghiên cứu chèo, Tiến sĩ ngữ văn Trần Đình Ngôn sinh năm 1942, quê gốc ở Hải Dương có 26 năm sinh sống và lập nghiệp tại Hải Phòng. Ông nguyên là Phó trưởng phòng Văn nghệ (Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Cảng), Phó trưởng Đoàn Chèo Hải Phòng. Trần Đình Ngôn cũng là một trong những văn nghệ sĩ được nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật đợt đầu năm 2007.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tác giả, đạo diễn, nhà nghiên cứu chèo Trần Đình Ngôn.

Là tác giả của hơn 200 vở chèo, sẽ không ai phản đối khi Trần Đình Ngôn được gọi là "kiện tướng" trong làng chèo Việt Nam. Ông viết nhiều kịch bản dài với nhiều đề tài khác nhau và có nhiều kịch bản được dàn dựng. Trong hàng trăm kịch bản mà Trần Đình Ngôn viết, chỉ có chừng 10 kịch bản kịch nói và cải lương. Số kịch bản của ông tham gia các hội diễn cũng đạt được nhiều Huy chương vàng, Huy chương bạc. Trong cuốn sách “Chèo - nhận thức từ một phía” của PGS Tất Thắng chọn 40 vở chèo tiêu biểu của thế kỷ 20, Trần Đình Ngôn có 11 vở. Ông cũng là người có đóng góp nhiều kịch bản nhất qua các kỳ hội diễn sân khấu chèo toàn quốc. Có hội diễn, ông tham gia tới 8/17 vở nên nhiều người trêu gọi là “hội diễn chèo Trần Đình Ngôn mở rộng”.

 

Nói vui như vậy để thấy những đóng góp của “kiện tướng” viết kịch bản chèo trong làng chèo Việt Nam. Điều đáng quan tâm, ông còn là người gắn bó với Hải Phòng, “coi như là” người Hải Phòng. Kịch bản chèo của ông cũng được Đoàn Chèo Hải Phòng đặt và dàn dựng thường xuyên. Bởi với Hải Phòng, ông chính là một phần của đời sống văn hóa nghệ thuật thành phố. Ông là một người con đất Cảng, có những dấu ấn trong nhịp sống tinh thần của thành phố.

 

3 người với 3 câu chuyện khác nhau. Song ai cũng có thể gọi tên họ - “Người Hải Phòng đấy!” với niềm vui, niềm tự hào vì những cống hiến và tài năng họ khẳng định trong hoạt động văn hóa nghệ thuật cả nước. Bởi họ chính là một phần của Hải Phòng, của đời sống văn hóa nghệ thuật Hải Phòng.

 

Phong Phong

 

.