Đề nghị phạt Trịnh Xuân Thanh chung thân; phạt Đinh La Thăng 14-15 năm tù giam
Cập nhật lúc10:20, Thứ Sáu, 12/01/2018 (GMT+7)

Sáng 11-1, phiên tòa xét xử bị cáo Trịnh Xuân Thanh và đồng phạm tiếp tục với phần thẩm vấn của các luật sư đối với các bị cáo, người làm chứng chung quanh hành vi “cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”. Trong đó, tập trung làm rõ trách nhiệm của các bị cáo đối với lĩnh vực mình được phân công.

 

Đối chất tại Tòa, bị cáo Phùng Đình Thực (nguyên Tổng Giám đốc PVN) cho biết, thực hiện nhiệm vụ được phân công, các Phó tổng giám đốc được quyền chủ động giải quyết và chịu trách nhiệm về những công việc đã làm. Bị cáo Nguyễn Quốc Khánh (Phó tổng giám đốc PVN) báo cáo dự án gặp khó khăn về than, điện. Ngày 15-6-2011, bị cáo Khánh phát hiện Hợp đồng EPC số 33 có vấn đề về cơ sở pháp lý, cho đến tháng 9 thì bị cáo Khánh mới báo cáo, đề nghị xin dừng hợp đồng.

 

Tại phiên tòa, luật sư cũng đặt câu hỏi với ông Vũ Huy Quang (nguyên Tổng Giám đốc PVPower) chung quanh việc cảnh báo về tính pháp lý của hồ sơ Hợp đồng EPC số 33. Ông Quang cho biết tại buổi công bố thành lập Ban Quản lý Dự án Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2, ông cảnh báo về sự thiếu sót của Hợp đồng EPC số 33. Tại cuộc họp đó gần như đầy đủ các lãnh đạo, ban chuyên môn của PVN (khoảng 20 người). Tuy có thể có những người không nghe được do không tập trung, song ông Quang khẳng định, cuối buổi họp có kết luận của bị cáo Đinh La Thăng (nguyên Chủ tịch Hội đồng thành viên PVN) nên họ không thể không biết.

 

Luật sư nhắc lại kết luận của bị cáo Đinh La Thăng tại cuộc họp đó chỉ yêu cầu rà soát lại Hợp đồng EPC số 33. Đồng thời, luật sư đề nghị ông Quang giải thích tại sao trong kế hoạch khai trương và ký Hợp đồng chuyển giao chủ thể 4194, ông không cảnh báo mà mãi đến ngày 4-4-2011 ông mới cảnh báo, thì ông Quang cho biết chỉ tập trung vào việc khởi công dự án.

 

Về hành vi lập các thủ tục chi tiền tạm ứng cho PVC, bị cáo Vũ Hồng Chương (nguyên Trưởng Ban quản lý Dự án Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2) cho biết, Ban Quản lý dự án trực thuộc PVN, là đơn vị phụ thuộc. “Công văn số 378 ngày 15-6 của Ban quản lý Dự án gửi bị cáo Phùng Đình Thực phải đóng dấu mật chứng tỏ là việc bất bình thường. Tôi là người phát hiện sai phạm của Hợp đồng EPC số 33 và đề xuất có giải pháp xử lý. Tuy nhiên tôi vẫn buộc phải chuyển tiền theo yêu cầu của lãnh đạo do tôi là cấp dưới, bị phụ thuộc nên phải nghe theo lệnh của cấp trên. Tôi đã trình báo nhưng không có kết quả”.

 

Đối chất về lời khai của bị cáo Vũ Hồng Chương, luật sư đặt câu hỏi với bị cáo Đinh La Thăng rằng nếu Vũ Hồng Chương không chuyển tiền tạm ứng thì có vi phạm quy chế của tập đoàn hay các quy định liên quan hay không? Trả lời câu hỏi này, bị cáo Đinh La Thăng cho biết lãnh đạo PVN khi triển khai dự án đều chỉ đạo làm đúng theo quy định pháp luật.

 

Chiều 11-1, phiên tòa xét xử bị cáo Trịnh Xuân Thanh và đồng phạm chuyển sang phần tranh tụng công khai. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đọc bản luận tội và đề nghị mức án đối với từng bị cáo.

 

Theo đó, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trịnh Xuân Thanh từ 13-14 năm tù về tội "Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”; xử phạt tù chung thân về tội “Tham ô tài sản”; tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội đối với bị cáo Trịnh Xuân Thanh là tù chung thân.

 

Đối với nhóm 12 bị cáo bị truy tố về tội "Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng", Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt các mức án, gồm: Bị cáo Đinh La Thăng bị phạt từ 14 - 15 năm tù; bị cáo Phùng Đình Thực (nguyên Tổng Giám đốc PVN) bị phạt từ 12-13 năm tù; 3 bị cáo: Nguyễn Quốc Khánh (nguyên Phó tổng giám đốc PVN), Nguyễn Xuân Sơn (nguyên Phó tổng giám đốc PVN) và Ninh Văn Quỳnh (nguyên Kế toán trưởng kiêm Trưởng Ban Tài chính Kế toán và Kiểm toán PVN) cùng bị đề nghị mức án từ 10-11 năm tù; 2 bị cáo: Lê Đình Mậu (nguyên Phó trưởng Ban Kế toán và Kiểm toán PVN) và Nguyễn Mạnh Tiến (nguyên Phó tổng giám đốc PVC) cùng bị đề nghị từ 7-8 năm tù; Nguyễn Ngọc Quý (nguyên Phó chủ tịch Hội đồng quản trị PVC) bị đề nghị từ 8-9 năm tù; Phạm Tiến Đạt (nguyên Kế toán trưởng PVC) bị đề nghị từ 6-7 năm tù; 2 bị cáo: Vũ Hồng Chương (nguyên Trưởng ban Quản lý dự án Điện lực dầu khí Thái Bình 2 thuộc PVN) và Trần Văn Nguyên (nguyên Kế toán trưởng Ban Quản lý dự án Điện lực dầu khí Thái Bình 2 thuộc PVN) cùng bị đề nghị từ 2-3 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 4-5 năm; bị cáo Trương Quốc Dũng (nguyên Phó tổng giám đốc PVC) bị đề nghị từ 17-18 tháng tù giam.

 

Nhóm bị cáo bị truy tố về tội "Tham ô tài sản" bị Viện kiểm sát đề nghị các mức án, gồm: Nguyễn Anh Minh (nguyên Phó tổng Giám đốc PVC) bị đề nghị từ 18-19 năm tù; 2 bị cáo: Bùi Mạnh Hiển (nguyên Chánh văn phòng PVC) và Lương Văn Hòa (nguyên Giám đốc Ban điều hành Dự án Vũng Áng - Quảng Trạch thuộc PVC) cùng bị đề nghị mức án từ 13-14 năm tù; Nguyễn Thành Quỳnh (nguyên Giám đốc kỹ thuật công nghệ Tổng Công ty cổ phần miền Trung - Công ty cổ phần Đà Nẵng) bị đề nghị từ 8-9 năm tù; 4 bị cáo: Lê Thị Anh Hoa (vợ bị cáo Nguyễn Thành Quỳnh), Nguyễn Đức Hưng (nguyên Trưởng Phòng Tài chính kế toán, Ban Điều hành Dự án Vũng Áng - Quảng Trạch thuộc PVC), Lê Xuân Khánh (nguyên Trưởng Phòng Kinh tế - kế hoạch, Ban Điều hành Dự án Vũng Áng - Quảng Trạch thuộc PVC), Nguyễn Lý Hải (nguyên Trưởng phòng Kỹ thuật, Ban Điều hành Dự án Vũng Áng - Quảng Trạch thuộc PVC) cùng bị đề nghị mức án 30-36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 5 năm.

 

Bị cáo Vũ Đức Thuận (nguyên Tổng Giám đốc PVC) bị đề nghị xử phạt từ 8-9 năm tù về tội "Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”, 18-19 năm tù về tội “Tham ô tài sản”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 tội là từ 26-28 năm tù.

 

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa cũng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Cụ thể, đề nghị cấm các bị cáo: Đinh La Thăng, Phùng Đình Thực, Nguyễn Quốc Khánh, Nguyễn Xuân Sơn, Ninh Văn Quỳnh, Lê Đình Mậu, Vũ Hồng Chương, Trần Văn Nguyên, Nguyễn Ngọc Quý, Nguyễn Mạnh Tiến, Phạm Tiến Đạt giữ các chức vụ liên quan đến quản lý doanh nghiệp, tài chính trong các tổ chức kinh tế nhà nước từ 4-5 năm sau khi chấp hành xong hình phạt. Cấm các bị cáo Trịnh Xuân Thanh, Vũ Đức Thuận, Nguyễn Anh Minh, Bùi Mạnh Hiển, Lương Văn Hòa đảm nhiệm các chức vụ liên quan đến quản lý doanh nghiệp, tài chính trong các tổ chức kinh tế nhà nước từ 4-5 năm sau khi chấp hành xong hình phạt.

 

Về trách nhiệm dân sự, Viện kiểm sát cũng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc các bị cáo: Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh, Phùng Đình Thực, Nguyễn Quốc Khánh, Nguyễn Xuân Sơn, Vũ Đức Thuận, Ninh Văn Quỳnh, Lê Đình Mậu, Nguyễn Ngọc Quý, Nguyễn Mạnh Tiến, Phạm Tiến Đạt phải liên đới bồi thường cho Nhà nước mà PVN là đại diện số tiền 119.804.660.196 đồng.

 

Xác nhận bị cáo Khánh đã tự nguyện nộp số tiền là 2 tỷ đồng, Viện kiểm sát đề nghị Tòa tuyên trả lại PVN số tiền bị cáo Nguyễn Quốc Khánh tự nguyện nộp khắc phục hậu quả; trả lại PVC số tiền đã thu giữ của các bị cáo và gia đình các bị cáo tự nguyện nộp khắc phục hậu quả (gồm: Trịnh Xuân Thanh 2 tỷ đồng, Nguyễn Anh Minh 3.560.000.000 đồng, Vũ Đức Thuận 800 triệu đồng, Lương Văn Hòa 2.260.000 đồng, Bùi Mạnh Hiển 400 triệu đồng, Nguyễn Thành Quỳnh và Lê Thị Anh Hoa 977.539.600 đồng, Nguyễn Đức Hưng 20 triệu đồng).

 

Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc các bị cáo: Trịnh Xuân Thanh, Vũ Đức Thuận, Nguyễn Anh Minh và Bùi Mạnh Hiển có trách nhiệm liên đới bồi thường cho PVC số tiền chưa khắc phục là 1,5 tỷ đồng; Trịnh Xuân Thanh phải bồi hoàn cho PVC số tiền còn chiếm đoạt là 2 tỷ đồng; Nguyễn Anh Minh phải bồi hoàn tiếp cho PVC số tiền còn chiếm đoạt chưa khắc phục là 88.240.000 đồng.

 

Đồng thời, đề nghị tiếp tục duy trì lệnh kê biên một số tài sản của Cơ quan An ninh điều tra, Bộ Công an để bảo đảm cho việc thi hành án.

 

Trong phần luận tội các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát cho rằng, thực chất việc ký kết Hợp đồng EPC số 33 ngày 28-2-2011 và Hợp đồng chuyển đổi chủ thể số 4194 ngày 13-5-2011 chỉ nhằm mục đích lấy tiền của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) để chuyển cho Tổng Công ty cổ phần xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC) đang chìm đắm trong nợ nần. Chỉ trong vòng chưa đầy 10 ngày từ 23 đến 31-5-2011 thông qua việc xin tạm ứng, PVC rút của PVN 1.000 tỷ đồng trên tổng số 1.312 tỷ đồng và 6,6 triệu USD tạm ứng trái quy định, sau đó PVC sử dụng không đúng mục đích số tiền lên tới 1.115 tỷ đồng gây thiệt hại cho PVN 119,8 tỷ đồng. Việc chỉ định nhà thầu là PVC thiếu năng lực về kinh nghiệm cũng như khả năng tài chính để thực hiện dự án đã để lại nhiều hệ lụy rất lớn.

 

Theo đại diện Viện Kiểm sát, số tiền thiệt hại hơn 119 tỷ đồng và 13 tỷ đồng tiền mà các bị cáo tham ô chưa nói được hết tính chất mức độ nghiêm trọng của vụ án. Ngoài việc gây thiệt hại ban đầu xác định được, việc làm trên của các bị cáo còn làm thời gian thực hiện dự án kéo dài gấp đôi, làm đội vốn đầu tư gần chục nghìn tỷ đồng, số tiền nếu phạt theo tiến độ của hợp đồng lên tới hàng trăm triệu USD; khi có vốn tạm ứng thì sử dụng tùy tiện, trái nguyên tắc gây thất thoát lớn vốn nhà nước.

 

Viện kiểm sát cho rằng, tại phiên tòa, hầu hết các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên. Tuy nhiên, một số bị cáo còn quanh co, chối tội, không thừa nhận trách nhiệm, hậu quả do hành vi của mình gây ra.

 

Cụ thể, bị cáo Đinh La Thăng không thừa nhận trách nhiệm như cáo buộc của Viện kiểm sát. Bị cáo cho rằng, trong quá trình triển khai Dự án Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 để xảy ra các sai phạm trong việc ký kết hợp đồng và tạm ứng cho PVC là trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân trực tiếp thực hiện. Bị cáo chỉ thừa nhận trách nhiệm là người đứng đầu, do sức ép về tiến độ nên nôn nóng, chưa chỉ đạo kiểm tra, giám sát chặt chẽ, thường xuyên.

 

Bị cáo Trịnh Xuân Thanh không thừa nhận việc chỉ đạo sử dụng sai mục đích nguồn vốn tạm ứng, không thừa nhận việc đề ra chủ trương, chỉ đạo việc lập khống hồ sơ thi công để rút và chiếm đoạt tiền của PVC.

 

Đại diện Viện kiểm sát nhận định: Căn cứ vào các tài liệu đã thu thập được, như các văn bản có chữ ký hoặc bút tích của các bị cáo, biên bản các cuộc họp, lời khai của các bị cáo khác trong cùng vụ án, lời khai của nhân chứng, kết luận giám định cùng các tài liệu khác… có đủ cơ sở khẳng định việc Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao truy tố các bị cáo về các tội “Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại Điều 165, khoản 3 và tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại Điều 278, khoản 4 – Bộ luật Hình sự năm 1999 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

 

TTXVN

.