Trong phiên họp chiều 18-7, thay mặt UBND thành phố, Phó chủ tịch Thường trực UBND thành phố Đan Đức Hiệp báo cáo giải trình một số vấn đề cử tri và nhân dân thành phố quan tâm, kiến nghị qua các cuộc tiếp xúc cử tri trước thềm kỳ họp thứ 4 HĐND thành phố khóa 14. Báo Hải Phòng xin giới thiệu toàn văn báo cáo này.
BÁO CÁO
Giải trình một số vấn đề quan tâm, kiến nghị của cử tri và các vị đại biểu qua tiếp xúc cử tri phục vụ Kỳ họp thứ 4, HĐNDTP khoá 14.
Căn cứ Công văn số 75/HĐND-CTHĐND ngày 10/7/2011 của Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố về việc giải trình một số vấn đề tại Kỳ họp thứ 4, HĐND thành phố khoá 14, UBND thành phố báo cáo và giải trình với HĐND thành phố và cử tri như sau:
1. Thu ngân sách 6 tháng đầu năm 2012 đạt thấp so với dự toán năm, giảm so cùng kỳ. Làm rõ nguyên nhân, biện pháp khắc phục phấn đấu đạt kế hoạch năm 2012.
UBND thành phố báo cáo như sau:
Như đã nêu trong Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của thành phố 6 tháng đầu năm 2012, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố đạt 16.094 tỷ đồng, bằng 28,0% dự toán Trung ương giao, 27,9% dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao và bằng 66% so với cùng kỳ. Trong đó, thu thuế xuất nhập khẩu là 12.318 tỷ đồng, đạt 26,1% dự toán năm và bằng 61,3% so với cùng kỳ; thu nội địa là 3.433 tỷ đồng, đạt 37,1% dự toán Trung ương giao, 36,3% dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao và bằng 90,4% so với cùng kỳ.
Kết quả cho thấy thu ngân sách nội địa 6 tháng đầu năm 2012 đạt thấp. Mức giảm thu diễn ra ở hầu hết các khoản thu, sắc thuế, đặc biệt giảm ở nguồn thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước, cụ thể: doanh nghiệp nhà nước trung ương giảm 99,9 tỷ đồng, doanh nghiệp nhà nước địa phương giảm 35,6 tỷ đồng, thu lệ phí trước bạ giảm 152,3 tỷ đồng, thuế bảo vệ môi trường (phí xăng dầu) giảm 138,4 tỷ đồng, thu tiền sử dụng đất giảm 61,8 tỷ đồng, thuế nhà đất (thuế sử dụng đất phi nông nghiệp) giảm 22,7 tỷ đồng. Khu vực quận, huyện số thu đạt thấp (bình quân đạt 29,9% so với dự toán), trong đó chỉ có 2 huyện đạt trên 51% so với dự toán và 12 quận, huyện đạt dưới 40% so với dự toán (có 4 quận, huyện chỉ đạt dưới 24% so với dự toán).
Một số khu vực đạt thấp so với dự toán giao gồm: thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đạt 17%, thuế thu nhập cá nhân đạt 23%, lệ phí trước bạ đạt 22%. Riêng thu tiền sử dụng đất khu vực quận, huyện 06 tháng thực hiện 90,6 triệu đồng, chỉ đạt 12% so với kế hoạch giao.
Nguyên nhân
- Do tình hình kinh tế gặp nhiều khó khăn gay gắt dẫn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh không ổn định, tăng trưởng thấp, số thu từ khu vực doanh nghiệp giảm mạnh, cụ thể:
+ Một số ngành chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất công nghiệp như sản xuất xi măng, sắt thép giảm (xi măng giảm 6,5%, sắt thép giảm 10,5%) đã ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình thu nộp ngân sách nhà nước.
+ Do chính sách thắt chặt tiền tệ, cắt giảm đầu tư công sản lượng hàng hóa tiêu thụ giảm, lượng hàng hóa tồn kho lớn. Các doanh nghiệp xây dựng hoạt động cầm chừng; các doanh nghiệp vận tải biển doanh thu sụt giảm do đơn giá cước giảm, không ký kết được hợp đồng vận chuyển. Công ty CP Bia Hà Nội - Hải Phòng sản lượng tiêu thụ bia hơi giảm, chỉ bằng 91,5% so với cùng kỳ....
+Thuế bảo vệ môi trường giảm do nhu cầu tiêu thụ của các doanh nghiệp hoạt động vận tải và các doanh nghiệp sản xuất giảm, cơ chế của các công ty xăng dầu dừng bán đối với các khách hàng nợ vượt quá định mức quy định nên khách hàng tiêu thụ bị giảm.
+ Thị trường bất động sản trầm lắng, nhu cầu tiêu dùng giảm, số lượng ô tô (- 1.000 xe), xe máy (- 3.000 xe) đăng ký kê khai nộp lệ phí trước bạ 06 tháng đầu năm giảm mạnh dẫn đến thu lệ phí trước bạ, thu tiền sử dụng đất giảm.
- Việc gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp nhỏ và vừa; miễn giảm, gia hạn một số khoản thu NSNN nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, với tổng số gần 200 tỷ đồng, cụ thể:
+ Tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp giãn của quý IV/2011 (nếu không giãn thì thời hạn nộp thuế trong tháng 01/2012) là 47.000 triệu đồng.
+ Tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp giãn của quý I/2011 là 49.290 triệu đồng (nếu không giãn thuế thì thời hạn nộp trong tháng 04/2012).
+ Số thuế giá trị gia tăng tháng 4, 5/2012 gia hạn vào tháng 10,11/2012 là 120 tỷ đồng.
+ Giảm 50% tiền thuê đất cho các doanh nghiệp sản xuất, thương mại, dịch vụ. Tiền thuê đất kỳ I/2012 phải nộp trong 6 tháng đầu năm giảm trên 20 tỷ đồng.
Biện pháp 6 tháng cuối năm
Từ phân tích trên cho thấy, xác định nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước những tháng cuối năm còn lại hết sức nặng nề, để hoàn thành dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao là 9.450 tỷ đồng thì nhiệm vụ 6 tháng cuối phải thu đạt 6.017 tỷ đồng (trừ thu tiền sử dụng đất còn phải thu 5.372 tỷ đồng), ngoài các nhiệm vụ đã triển khai 6 tháng đầu năm 2012, Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo triển khai bổ sung một số giải pháp sau:
- Tập trung chỉ đạo rà soát lại tất cả các nguồn thu trên địa bàn, phân tích và dự báo sát nguồn thu những tháng cuối năm, những nhân tố tác động đến tăng, giảm nguồn thu, khai thác tăng thu để bù đắp các nguồn thu thiếu hụt.
- Tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, ổn định, phát triển sản xuất kinh doanh, tăng cường công tác quản lý và điều hành thu, chi ngân sách năm 2012.
- Tăng cường công tác kiểm tra tờ khai thuế, đảm bảo kiểm tra 100% tờ khai thuế, kiên quyết xử lý đối với các trường hợp chậm nộp tờ khai thuế, khai sai, thực hiện ấn định thuế đối với các trường hợp kê khai không đúng thực tế hoạt động sản xuất, kinh doanh (đặc biệt trong lĩnh vực vận tải, du lịch, khách sạn).
- Tập trung tối đa nguồn lực cho công tác thanh tra, kiểm tra thuế. Tập trung thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp lỗ nhiều năm, doanh nghiệp âm thuế, doanh nghiệp có dấu hiệu chuyển giá. Nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra thuế, đảm bảo thời gian cũng như hiệu quả công tác thanh, kiểm tra.
- Tăng cường công tác thu nợ và cưỡng chế nợ thuế, thực hiện thông báo phạt chậm nộp 100% các trường hợp nợ đọng thuế, áp dụng các biện pháp cưỡng chế nợ thuế đối với các trường hợp cố tình chây ỳ nợ đọng thuế. Phấn đấu, đạt chỉ tiêu thu nợ đọng thuế dưới 5% tổng số thực thu ngân sách năm 2012.
- Phối hợp với các ngành, các cấp tăng cường quản lý các khoản thu từ đất bao gồm tiền thuê đất, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản, đẩy mạnh đấu giá quyền sử dụng đất thu nộp kịp thời vào ngân sách nhà nước phấn đấu thu tiền sử dụng đất từ 400 đến 500 tỷ đồng.
- Tập trung cao việc thu thuế của khối quận, huyện, đặc biệt là nguồn thu từ đấu giá quyền sử dụng đất.
- Tăng cường quản lý thu thuế đối với hoạt động xây dựng cơ bản thanh toán bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, vốn ODA, các dự án FDI lớn thuộc đối tượng nộp thuế GTGT, thực hiện khấu trừ 2% thuế GTGT trên giá trị thanh toán khối lượng công trình hoàn thành bàn giao theo quy định của Bộ Tài chính.
2. Sáu tháng đầu năm lạm phát đã được kiềm chế, chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,51%, lãi suất huy động và lãi suất cho vay đã giảm mạnh so với đầu năm. Song rất nhiều doanh nghiệp vẫn còn khó khăn, nhất là khó tiếp cận vốn vay. Làm rõ nguyên nhân, thành phố có giải pháp gì để tháo gỡ khó khăn, giúp doanh nghiệp sớm tiếp cận và hấp thụ vốn tín dụng để duy trì phát triển sản xuất - kinh doanh.
UBND thành phố báo cáo như sau:
Trước những khó khăn của các doanh nghiệp và xu hướng sụt giảm tăng trưởng của nền kinh tế đầu năm 2012, Chính phủ đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước hạ lãi suất huy động và lãi suất cho vay.
Đến thời điểm 15/7/2012, có nhiều ngân hàng đã công bố mức lãi suất cho vay dưới 15%, có ngân hàng cho vay dưới 12%. Đây là động thái tích cực của Ngân hàng Nhà nước nhằm tháo gỡ cho các doanh nghiệp. Tuy lãi suất cho vay đã giảm mạnh nhưng doanh nghiệp chưa mặn mà hoặc không thể hấp thụ được vốn vay.
Nguyên nhân chính
- Các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn là những doanh nghiệp đang đầu tư dở dang, hàng hóa tồn kho với số lượng lớn, sản xuất kinh doanh bị đình trệ do không có thị trường tiêu thụ, có dư nợ hoặc nợ xấu tại ngân hàng nên dù có nhu cầu vay cũng không dễ được các ngân hàng chấp nhận cho vay.
- Nhiều doanh nghiệp chưa muốn vay vốn cho dù lãi suất giảm là do nguyên liệu đầu vào tăng mạnh, hàng hóa tồn đọng, thị trường tiêu thụ khó khăn dẫn đến kinh doanh chậm, doanh nghiệp phải cắt giảm sản xuất hoặc sản xuất cầm chừng.
- Việc cụ thể hóa quy trình thủ tục vay và những tiêu chí để giải quyết những vấn đề thủ tục, địa chỉ được vay chưa nhanh và thiếu cụ thể làm hạn chế cho việc doanh nghiệp được tiếp cận vốn vay.
- Sự phối hợp giữa ngân hàng với doanh nghiệp, cũng như sự chia sẻ để cùng tồn tại vượt qua khó khăn chưa được chặt chẽ và còn thiếu nhịp nhàng.
- Kỹ năng hạch toán kế toán, lập báo cáo tài chính, lập phương án sản xuất kinh doanh hoặc dự án đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn yếu, không đáp ứng được thủ tục vay vốn của ngân hàng, trong khi các ngân hàng do nợ xấu, nợ quá hạn lớn nên rất thận trọng trong việc cho các doanh nghiệp được vay.
Một số giải pháp
- Đứng trước những khó khăn trên của doanh nghiệp, Ủy ban nhân dân thành phố đã tích cực chỉ đạo thực hiện tốt Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường. Tạo điều kiện để các doanh nghiệp có thể tiêu thụ được hàng hóa, đầy nhanh các dự án đầu tư, đẩy mạnh cuộc vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam.
- Tiếp tục hỗ trợ cho các doanh nghiệp tổ chức xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Khuyến khích, tăng cường hoạt động của các hiệp hội doanh nghiệp trong việc hỗ trợ lẫn nhau.
- Chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dung đất, quyền sở hữu tài sản trên đất cho các doanh nghiệp một cách nhanh chóng để làm căn cứ cho việc vay vốn tín dụng.
- Giúp các doanh nghiệp cơ cấu lại hoạt động doanh nghiệp, tìm các giải pháp vượt qua khó khăn như: tăng năng suất lao động, giảm chi phí, giảm giá thành sản phẩm, đa dạng hóa nguồn vốn huy động, hạn chế phụ thuộc nguồn vốn vay từ các ngân hàng, tăng năng lực quản trị doanh nghiệp, kỹ năng lập phương án sản xuất kinh doanh, hạch toán và sổ sách kế toán.
- Chỉ đạo các ngân hàng và doanh nghiệp chủ động phối hợp trong việc cơ cấu lại các khoản nợ xấu, nợ quá hạn cho những doanh nghiệp đang thực hiện dự án đầu tư dở dang, những doanh nghiệp hiện đang bị tồn đọng hàng hóa do thị trường tiêu thụ giảm sút để doanh nghiệp vượt qua khó khăn, tiếp tục duy trì sản xuất. Công khai các tiêu chí, thủ tục vay vốn và hướng dẫn cụ thể cho các khách hàng là doanh nghiệp nhỏ và vừa ít có cơ hội tiếp cận với thông tin ngân hàng.
- Báo cáo Chính phủ chỉ đạo các ngân hàng xem xét có cơ chế nới lỏng, đổi mới linh hoạt, điều kiện vay vốn; mạnh dạn cho các doanh nghiệp thực hiện các dự án khả thi, các doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu nhưng đã hết hoặc không có tài sản thế chấp vay vốn.
3. Thực hiện Nghị quyết 13/NQ-CP của Chính phủ, Thông tư số 83/TT-BTC ngày 23/5/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị quyết số 13/NQ-CP về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường. Thành phố triển khai thực hiện như thế nào, có bao nhiêu doanh nghiệp được hỗ trợ theo Nghị quyết số 13 của Chính phủ, năm 2012 thành phố giảm thu ngân sách bao nhiêu do thực hiện chính sách này.
UBND thành phố báo cáo như sau:
Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 13/NQ-CP, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 83/TT-BTC, Ủy ban nhân dân thành phố đã chỉ đạo ngành tài chính, thuế và các cấp, sở, ngành, thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Cục Thuế thành phố quán triệt nội dung Nghị quyết số 13/NQ-CP của Chính phủ và Thông tư số 83/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính tới toàn thể cán bộ, công chức trong toàn ngành để lập kế hoạch triển khai thực hiện;.
- Đẩy mạnh tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tổ chức thực hiện Hội nghị đối thoại giải đáp vướng mắc của doanh nghiệp trên địa bàn thành phố, kết hợp cung cấp thông tin, phổ biến hướng dẫn thực hiện.
- Tập trung chỉ đạo điều tra, rà soát đánh giá đúng thực trạng tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phân loại doanh nghiệp theo loại hình doanh nghiệp, doanh thu, kết quả kinh doanh lãi, lỗ, số thu nộp ngân sách nhà nước...Trên cơ sở đó có biện pháp quản lý phù hợp.
- Thường xuyên theo dõi sát tình hình biến động kinh tế, xã hội, những nhân tố ảnh hưởng đến nguồn thu Ngân sách trên địa bàn, tổng hợp kịp thời, chính xác, số thuế được gia hạn, giãn, giảm; rà soát lại các nguồn thu trên địa bàn, tập trung đôn đốc thu nộp kịp thời vào Ngân sách nhà nước nhằm bù đắp các khoản thu thiếu hụt do giãn, giảm thuế, nhằm phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN năm 2012 được giao.
- Yêu cầu các quận, huyện tổ chức hội nghị triển khai tới các doanh nghiệp, đối tượng có nộp thuế trên địa bàn.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, chống nợ đọng thuế, kiên quyết xử lý đối với các trường hợp lợi dụng chính sách miễn, giảm, gia hạn thời gian nộp thuế của Chính phủ để tự kê khai miễn, giảm, gia hạn thời gian nộp thuế không đúng đối tượng, trốn thuế, chây ỳ nợ đọng thuế. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về thuế, tiếp tục triển khai khai thuế điện tử, đẩy mạnh nộp thuế qua Ngân hàng thương mại.
Kết quả cụ thể của việc thực hiện chính sách miễn, giảm, giãn thuế theo Nghị quyết 13/NQ-CP của Chính phủ và Thông tư số 83/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính
- Về giãn thuế GTGT tháng 4+5+6/2012 (gia hạn 6 tháng): Giãn cho trên 2.500 lượt doanh nghiệp với tổng số thuế giãn là 223,3 tỷ đồng.
+ Giãn thuế GTGT tháng 4 (nộp tháng 11/2012): 837 doanh ngiệp với số tiền thuế 76,3 tỷ đồng
+ Giãn thuế GTGT tháng 5 (nộp tháng 12/2012): 825 doanh ngiệp với số tiền thuế 81,5 tỷ đồng
+ Giãn thuế GTGT tháng 5 (nộp tháng 01/2013): Ước gia hạn 838 doanh ngiệp với số tiền thuế 65,5 tỷ đồng
- Giảm 50% tiền thuê đất cho 70 doanh nghiệp với tổng số tiền là 28,2 tỷ đồng.
- Gia hạn nộp thu tiền sử dụng đất: Sở Tài chính và Cục Thuế TP HP đang kiểm tra hồ sơ để thực hiện gia hạn đúng đối tượng quy định tại Thông tư số 83/2012/TT-BTC.
- Miễn thuế môn bài năm 2012 đối với hộ đánh bắt hải sản cho 344 đối tượng với tổng số tiền thuế là 86,5 triệu đồng.
- Gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (9 tháng) cho 24 doanh nghiệp với tổng số tiền thuế là: 4,757 tỷ đồng.
4. Tình trạng chuyển đổi chủ sở hữu đối với khách sạn, doanh nghiệp, khu công nghiệp đang diễn ra, tiềm ẩn nguy cơ mất an ninh kinh tế, làm rõ trách nhiệm quản lý nhà nước, biện pháp khắc phục.
UBND thành phố báo cáo như sau:
Do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn. Khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng kinh doanh trì trệ, thua lỗ, không đủ khả năng hoàn trả các khoản vay tín dụng thì chủ doanh nghiệp hướng đến việc chuyển nhượng vốn góp của mình tại doanh nghiệp (bán nợ) cho các chủ sở hữu mới có năng lực tốt hơn với mục đích thay đổi tình hình tài chính cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thời gian gần đây, trên địa bàn thành phố Hải Phòng, do khó khăn trong sản xuất kinh doanh, nợ ngân hàng và các tổ chức tín dụng lớn, xuất hiện hiện tượng chủ sở hữu doanh nghiệp chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp hoặc phần lớn số vốn góp tại doanh nghiệp cho các cá nhân khác, làm thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc thay đổi người nắm cổ phần chi phối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có chiều hướng gia tăng.
- Đồng thời với việc chuyển nhượng, phần lớn các doanh nghiệp đều đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật.
- Trên thực tế, điều đáng chú ý là các doanh nghiệp mua nợ tập trung vào các doang nghiệp có nợ xấu ở ngân hàng lớn hoặc sử dụng nhiều đất. Các doanh nghiệp nhận chuyển nhượng là doanh nghiệp mới, vốn nhỏ, năng lực sản xuất kinh doanh yếu, sau khi nhận chuyển nhượng, không chú trọng đến công tác tái cấu trúc, tái cơ cấu doanh nghiệp nhằm nâng cao sức cạnh tranh, doanh nghiệp không có vốn, thậm chí không quan tâm duy trì hoạt động sản xuất - kinh doanh, không phối hợp hoặc trì hoãn giải quyết đối với khách hàng các khoản nợ cũng như các nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với ngân hàng, không đảm bảo việc làm và đời sống người công nhân lao động..... Tình hoạt động các doanh nghiệp không tốt lên.
Nguyên nhân
- Do tồn tại một số kẽ hở của pháp luật nên các cơ quan quản lý nhà nước không kiểm soát được tình trạng tồn tại một số chủ sở hữu mới không quan tâm thay đổi tái cơ cấu doanh nghiệp, trì hoãn, khất lần các khoản nợ tín dụng của doanh nghiệp đã vay trước đây mà chưa có cơ chế giám sát hoặc chế tài, biện pháp xử lý triệt để.
- Các cơ quan quản lý nhà nước về tài chính, tiền tệ đối với doanh nghiệp chưa kịp thời nắm tình hình, nghiên cứu, tham mưu đề xuất các biện pháp hiệu quả với thành phố và Trung ương để kiểm soát tình hình.
Một số biện pháp khắc phục
- Báo cáo với Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng nhà nước có những quy định bổ sung để quản lý hình thức hoạt động này.
- Rà soát, tổng hợp tình hình doanh nghiệp sau khi thay đổi chủ sở hữu không quan tâm thay đổi tái cơ cấu doanh nghiệp, trì hoãn các khoản nợ tín dụng, có phương án xử lý cụ thể.
- Tổ chức nghiên cứu tính pháp lý về trách nhiệm của doanh nghiệp, chủ sở hữu doanh nghiệp đối với các khoản vay nợ trước khi diễn ra hoạt động chuyển nhượng phần vốn góp, chuyển quyền điều hành doanh nghiệp, thay đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
- Chỉ đạo kiểm điểm, rút kinh nghiệm trong việc quản lý nhà nước về hoạt động tín dụng; nghiên cứu điều chỉnh các điều khoản về trách nhiệm người vay nợ trong hợp đồng tín dụng, loại bỏ những kẽ hở có thể bị lợi dụng, chiếm dụng vốn kinh doanh; nhanh chóng đưa ra phương án cụ thể thu hồi nợ xấu, tránh ảnh hưởng đến trật tự - an ninh, kinh tế - xã hội của thành phố.
- Thường xuyên trao đổi, cập nhật thông tin về tình hình tài chính, tiền tệ, tín dụng cũng như các hoạt động đầu tư, chuyển nhượng của doanh nghiệp để có biện pháp ngăn chặn, kiểm tra, giám sát, tránh nguy cơ bất ổn về kinh tế của thành phố.
- Kiểm tra, rà soát lại các hoạt động mua bán phần vốn góp, chuyển nhượng quyền sở hữu và điều hành đã được thực hiện trong thời gian vừa qua của những doanh nghiệp đang có nợ xấu, đưa ra những biện pháp xử lý thích hợp.
5. Thực hiện chỉ tiêu thu ngân sách các cấp từ đất, nhất là từ đấu giá đạt rất thấp. Làm rõ nguyên nhân chủ quan, giải pháp phấn đấu thực hiện chỉ tiêu này trong 6 tháng cuối năm 2012. Quy chế đấu giá đất của thành phố chưa đi vào cuộc sống, cần sửa đổi, bổ sung thế nào để khả thi, hiệu quả.
UBND thành phố báo cáo như sau:
Trong những năm gần đây, hàng năm ngân sách thành phố thu khoảng 400 tỷ đồng, gồm các khoản thu: tiền sử dụng đất; tiền thuê đất, mặt nước; thuế nhà đất; thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân do chuyển quyền sử dụng đất; thuế sử dụng đất nông nghiệp, trong đó 75% là thu từ cấp quyền sử dụng đất.
- Năm 2010, có 8 đơn vị tổ chức thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất 53 vị trí, tổng diện tích 16,8ha, tổng giá trị khởi điểm là 417,1 tỷ đồng, tổng giá trị trúng đấu giá là 477,9 tỷ đồng. Năm 2011, có 5 đơn vị tổ chức thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất 29 vị trí, tổng diện tích 3,9ha, tổng giá trị khởi điểm là 148,2 tỷ đồng, tổng giá trị trúng đấu giá là 176,3 tỷ. Riêng 6 tháng đầu năm 2012 thu tiền sử dụng đất đạt 125,1/770 tỷ đồng đạt 16,2% dự toán.
Nguyên nhân
- Nguyên nhân khách quan: Do thị trường bất động sản trên phạm vi toàn quốc 6 tháng đầu năm 2012 tiếp tục gặp khó khăn. Giá cả bất động sản nhà ở sụt giảm ở tất cả các phân khúc thị trường. Số lượng giao dịch giảm mạnh, thậm chí nhiều dự án không có giao dịch. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn hơn.
- Nguyên nhân chủ quan:
+ Việc đấu giá quyền sử dụng đất tuy đã phân cấp cho cấp huyện nhưng chưa được tổ chức thực hiện thường xuyên qua các năm, trong 3 năm một số quận, huyện không tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất (UBND các quận, huyện: Hồng Bàng, Lê Chân, Hải An, Kiến An, Đồ Sơn, Dương Kinh, An Dương và Bạch Long Vĩ).
+ Ngân sách chưa cân đối được nguồn kinh phí bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để hỗ trợ các quận/huyện để chuẩn bị mặt bằng sạch có cơ sở hạ tầng để đấu giá.
+ Việc xác định giá khởi điểm chưa có quy định cụ thể, nhiều vị trí xác định giá khởi điểm tương đối cao so với thị trường nên khi tổ chức đấu giá không có người đăng ký tham gia. Đến ngày 16/3/2012, Bộ Tài chính mới có Thông tư 48/2012/TT-BTC hướng dẫn xây dựng giá khởi điểm.
Giải pháp thực hiện trong 6 tháng cuối năm 2012
- Sửa đổi Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất theo hướng phân cấp cho UBND quận, huyện phê duyệt phương án và kết quả đấu giá quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất xen kẹp trong khu dân cư, không phải xây dựng cơ sở hạ tầng, có quy mô diện tích, tổng mức giá khởi điểm không lớn; cho phép điều chỉnh giảm giá khởi điểm để tổ chức đấu giá lại đối với các trường hợp đấu giá không thành do giá khởi điểm cao....
- Chỉ đạo giải quyết nhanh các thủ tục để thực hiện đấu giá 49 điểm (đất xen kẹp trong khu dân cư và đất các quận/huyện đã lập kế hoạch) để đấu giá trong 6 tháng cuối năm 2012 theo cơ chế phân cấp trên, dự kiến thu 300 tỷ đồng.
- Trung tâm Phát triển quỹ đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức đấu giá 1,1ha/6 địa điểm đã có cơ sở hạ tầng do thu hội 10% từ các dứ án phát triển nàh ở trên địa bàn thành phố, dự kiến thu khoảng 54 tỷ đồng.
- Xem xét, xác định lại mục tiêu đầu tư để tổ chức đấu giá 8.400m2 đất đã giải phóng mặt bằng tại số 14 Trần Quang Khải, dự kiến thu khoảng 200 tỷ đồng.
- Tập trung chỉ đạo cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các hộ gia đình, cá nhân khi được công nhận hoặc chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với quy hoạch sang đất làm nhà ở để thu tiền sử dụng đất; giải quyết nhanh thủ tục hành chính đề cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các tổ chức và công dân khi có nhu cầu chuyển quyền sử dụng đất và giao dịch bất động sản để tăng thu các khoản thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ.
- Quyết định thu tiền sử dụng đất đối với các dự án phát triển đô thị của Công ty Vinaconex ITC và Công ty CP Du lịch quốc tế Ngân Anh do có nhu cầu nộp tiền sử dụng đất để chuyển nhượng tài sản thay vì cơ chế miễn thu tiền sử dụng đất trước đây, dự kiến thu 200 tỷ đồng.
6. Tình hình bảo đảm vệ sinh nguồn nước cấp sinh hoạt cho thành phố, những tồn tại, nguyên nhân, giải pháp khắc phục.
UBND thành phố báo cáo như sau:
Hiện nay Công ty TNHH Một thành viên Cấp nước Hải Phòng đang khai thác nguồn nước tại một số hệ thống sông sau: Hệ thống An Kim Hải (sông Rế), hệ thống sông Đa Độ, các kênh Chanh Dương, Ba Đồng, sông Giá….
- Đa số các nguồn nước mặt trên qua kiểm tra, quan trắc cho thấy có ô nhiễm. UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 315/QĐ-UBND ngày 09/3/2012 về việc Thành lập đoàn kiểm tra công tác bảo vệ nguồn cấp nước sinh hoạt trên địa bàn thành phố do lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm trưởng đoàn chủ trì. Kết quả kiểm tra và đề xuất phương án xử lý sẽ được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn báo cáo UBND thành phố sau khi đoàn kiểm tra hoàn thành nhiệm vụ theo nội dung Quyết định số 315/QĐ-UBND.
Nguyên nhân
- Nguyên nhân là do nước thải trực tiếp từ các hệ thống thoát nước thải, rác thải dân sinh, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trông thủy sản, rác thải, khói bụi công nghiệp, thuốc bảo vệ thực vật ra hệ thống các sông nước nguồn.
Một số biện pháp đảm bảo vệ sinh nguồn nước
- Các nguồn nước trên được bảo vệ bởi các công trình như: Hàng rào bảo vệ bên các bờ sông, kè đá, các biển báo, rào chắn… để giảm thiểu các nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước.
- Thường xuyên kiểm tra và kiên quyết xử lý nghiêm các vụ việc vi phạm hành lang bảo vệ nguồn nước, các vụ việc gây ô nhiễm nguồn nước.
- Xử lý nước theo công nghệ xử lý nước mặt truyền thống, khử trùng bằng clo, lọc nước bằng hai lớp vật liệu lọc là cát và than.
- Thường xuyên lấy mẫu nước nguồn để kiểm tra chất lượng nguồn nước, phân tích lượng hóa chất, và vi sinh vật có hại theo tiêu chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT để kịp thời xử lý..
- Tiếp tục chỉ đạo các ngành, đặc biệt các địa phương có nguồn nước qua tại huyện An Dương, Kiến Thụy, An Lão, Vĩnh Bảo, Thủy Nguyên quan tâm không để xả thải, chôn cất, nuôi trồng thủy sản… ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước.
- Tăng cường quán triệt phổ biến Luật Bảo vệ Môi trường, tài nguyên nước để nâng cao ý thức của các cá nhân, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư trong thực hiện bảo vệ nguồn nước ngọt của thành phố.
7. Tình trạng vi phạm Luật Đê điều, xây dựng nhà xưởng, lập bến bãi trái phép tại khu vực các bãi sông sát chân đê diễn ra phức tạp, gây bức xúc trong nhân dân; làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm, biện pháp khắc phục.
UBND thành phố báo cáo như sau:
Hoạt động sử dụng, khai thác đất đai ở khu vực ven đê, bãi bồi đã được nhân dân tiến hành từ rất lâu gắn với các hoạt động sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản và các hoạt động kinh tế khác. Hầu hết diện tích đất nông nghiệp trong phạm vi bảo vệ đê phía đồng đã được chính quyền địa phương giao lâu dài cho nhân dân để canh tác trồng lúa hoặc chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản, trang trại; sang nhượng, chuyển đổi xây dựng cơ sở sản xuất, lập bến bãi tập kết vật liệu.
Trên địa bàn thành phố có 65 khu dân cư tập trung, cơ sở sản xuất công nghiệp với 3.051 hộ gia đình, cơ sở sản xuất có sử dụng đất hoặc xây dựng công trình trong hành lang bảo vệ đê, bãi sông. Hầu hết các khu dân cư, cơ sở sản xuất này đã hình thành từ trước khi ban hành Pháp lệnh Đê điều năm 1989.
Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo về tăng cường quản lý nhà nước, ngăn chặn, xử lý vi phạm. Tuy nhiên, hiệu lực, hiệu quả xử lý vi phạm chưa cao, vi phạm vẫn tiếp diễn và có chiều hướng gia tăng. Từ năm 2001 đến nay đã xử lý được 1.017 trường hợp vi phạm pháp luật về đê điều và phòng chống lụt bão. Hiện còn tồn tại 1.661 trường hợp vi phạm gồm: xây dựng nhà xưởng, âu tàu, cầu tàu, bến thuỷ nội địa, bến bãi tập kết vật liệu xây dựng, san lấp mặt bằng, khoang đắp đầm thuỷ sản.
Nguyên nhân tồn tại các trường hợp vi phạm pháp luật về đê điều và phòng chống lụt bão
- Do tồn tại quá khứ, các khu dân cư, cơ sở sản xuất đã hình thành trong phạm vi bảo vệ đê từ trước khi có Pháp lệnh Đê điều nên khó khăn để giải toả, di dời.
- Ý thức chấp hành Luật Đê điều và Pháp lệnh Phòng chống lụt bão của một bộ phận dân cư, một số tổ chức doanh nghiệp còn hạn chế, thậm chí còn cố tình vi phạm pháp luật.
- Việc thực hiện trách nhiệm xử lý vi phạm của chính quyền địa phương chưa cương quyết, chưa kịp thời. Nhiều trường hợp lực lượng quản lý đê đã báo cáo nhiều lần nhưng không được xử lý.
- Một số địa phương, ngành cấp phép cho các hoạt động sử dụng đất trong phạm vi bảo vệ đê chưa quan tâm đến phạm vi điều chỉnh của pháp luật về đê điều và phòng chống lụt bão như: cấp đất, giao đất, cho thuê đất, hợp đồng sử dụng bến bãi, xây dựng công trình trong phạm vi bảo vệ đê, lòng sông thoát lũ.
- Một số tổ chức, cá nhân được giao, thuê đất sử dụng không đúng mục đích hoặc thực hiện không đúng giấy phép được cấp.
Một số giải pháp khắc phục
- Đối với các khu dân cư, khu đô thị, công trình nhà ở:
+ Giải toả các công trình trong phạm vi 05 mét tính từ chân đê trở ra theo đúng quy định về hành lang bảo vệ đê đối với đê đi qua khu dân cư, khu đô thị. Đối với các công trình nhà ở riêng biệt không thuộc khu dân cư tập trung, xử lý giải toả theo hành lang bảo vệ đê 25 m tính từ chân đê trở ra.
+ Điều chỉnh và phê duyệt phương án sử dụng đất, quy hoạch xây dựng ở bãi sông để làm căn cứ xử lý di dời hoặc tiếp tục sử dụng, xây dựng mới Khu dân cư trong hành lang bảo vệ đê phía sông và bãi song theo Quy hoạch phòng chống lũ chi tiết các tuyến sông.
+ Củng cố đê bối khu vực bãi sông ngoài đê chính (đê Hữu sông Cấm) tại thôn Trại Kênh (xã Đại Bản) vì đây là khu dân cư đông đúc, lâu đời. Di dời, tái định cư để đảm bảo an toàn, ổn định đời sống nhân dân của thôn Cồn Mục (xã Đại Hợp, huyện Kiến Thuỵ) ở khu vực bãi ngoài đê biển.
+ Tại các khu vực dân cư đã tiến hành giải toả, tiến hành làm đường hành lang chân đê để chống tái chiếm và tạo điều kiện thuận lợi về giao thông.
- Đối với các công trình, vật kiến trúc:
+ Giải toả các công trình, vật kiến trúc, bãi vật liệu trong phạm vi bảo vệ đê theo đúng chỉ giới hành lang bảo vệ đê.
+ Các công trình nhà, xưởng, cầu tàu, bến bốc xếp và vật kiến trúc khác xây dựng trái phép, san lấp mặt bằng quá mức lũ báo động cấp II phải giải toả, khôi phục nguyên trạng bãi sông đảm bảo an toàn thoát lũ.
+ Các bãi vật liệu không phù hợp với quy hoạch, không được cấp có thẩm quyền cấp phép, không có biện pháp gia cố, lấn chiếm lòng sông, gây tác động sạt lở và ảnh hưởng thoát lũ phải giải toả, thu hồi đất.
+ Đối với đầm nuôi trồng thuỷ sản trên bãi sông được tiếp tục khai thác sử dụng nhưng khống chế cao độ bờ bao không vượt quá mức lũ báo động cấp II. Không giao phần diện tích hành lang bảo vệ đê, trường hợp đã giao thì phải thu hồi để thực hiện biện pháp gia cố tăng cường ổn định của đê.
+ Thu hồi toàn bộ đất đầm thuỷ sản ngoài đê biển các địa phương đã giao thuê trong phạm vi 200 m tính từ chân đê thuộc hành lang bảo vệ đê đã hết hạn sử dụng để trồng cây chắn sóng; các trường hợp chưa hết hạn sử dụng không gia hạn sử dụng và tổ chức thu hồi khi đến hạn.
- Đối với đất đã giao cho các dự án đầu tư đúng thẩm quyền và phù hợp với các quy định của pháp luật:
+ Cho phép các tổ chức, cá nhân đã thuê đất được tiếp tục sử dụng theo đúng mục đích, đúng chỉ giới và phải thực hiện đúng các cam kết, các yêu cầu về đảm bảo an toàn đê điều, phòng chống lụt bão.
+ Tăng cường kiểm tra việc chấp hành quyết định cấp phép của cấp có thẩm quyền đối với các dự án, các công trình được cấp phép theo qui định, kiên quyết xử lý những hành vi vi phạm theo qui định của pháp luật.
- Tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức pháp luật về đê điều và phòng chống lụt bão, vận động các tổ chức, cá nhân tự giác chấp hành. Các trường hợp không tự giác chấp hành, có biện pháp cưỡng chế giải toả. Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm nghiêm trọng.
- Lập quy hoạch các khu vực bến bãi tập trung phục vụ các hoạt động tập kết, kinh doanh vật liệu xây dựng đảm bảo các quy định về an toàn đê điều và phòng chống lụt bão.
- Kiểm tra, rà soát việc giao đất, cho thuê đất trong phạm vi bảo vệ đê điều, bãi bồi ven sông, ven biển và rừng phòng hộ chắn sóng để thực hiện thu hồi hoặc chuyển đổi hình thức sử dụng đất để tạo điều kiện thuận lợi cho việc trồng cây chắn sóng và giải phóng mặt bằng phục vụ tu bổ đê điều.
- Quy định cụ thể trách nhiệm của Chủ tịch UBND quận, huyện, xã, phường, thị trấn nếu để xảy ra vi phạm, không xử lý kịp thời, kiên quyết trên địa bàn.
8. Đội bóng đá VICEM Hải Phòng được thành phố quan tâm đầu tư; cổ động viên và người hâm mộ thành phố nhiệt thành và hy vọng. Tuy nhiên, mùa giải năm 2012 này thi đấu kém hiệu quả, phải xuống hạng. Làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm của tổ chức và cá nhân.
UBND thành phố báo cáo như sau:
Bóng đá là một môn thể thao đặc biệt được quan tâm và phát triển ở Hải Phòng. Ở vào thời điểm đỉnh cao, tại thành phố có 5 - 6 đội hạng A (như ngoại hạng hiện nay). Bóng đá luôn là nhu cầu thưởng thức của người dân đất Cảng và luôn dành được sự quan tâm của các thế hệ lãnh đạo và nhân dân thành phố.
Tuy nhiên, hơn 20 năm trở lại đây trên địa bàn thành phố chỉ có 1 đội bóng ngoại hạng. Mặc dù được lãnh đạo thành phố và cổ động viên, nhân dân thành phố ưu ái, nhưng từ khi chuyển sang hoạt động theo cơ chế chuyên nghiệp, đội bóng đá Hải Phòng đã 02 lần xuống hạng (2002, 2006). Năm 2011, đứng ở nhóm cuối bảng và đã thoát hiểm ở các trận cuối. Mùa giải 2012, mặc dù đội bóng đá VICEM Hải Phòng được thành phố, đơn vị quản lý quan tâm đầu tư, khán giả ủng hộ nhưng hết vòng 21, đội bóng đã nắm chắc tấm vé xuống hạng.
Nguyên nhân
- Thực hiện quy chế bóng đá chuyên nghiệp chưa nghiêm túc. Không có chiến lược phát triển câu lạc bộ, chưa tập trung đầu tư tốt cho việc đào tạo các lớp cầu thủ kế cận (từ U11 - U19) nên không có lực lượng cầu thủ. Nguyên nhân chủ yếu do công tác điều hành có nhiều bất cập, bộ máy quản lý câu lạc bộ không có chuyên môn về bóng đá. Việc mua bán, chuyển nhượng cầu thủ không đảm bảo yêu cầu. Hệ thống cơ sở vật chất không đạt quy chuẩn.
- Sự phối kết hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước về thể dục thể thao và Câu lạc bộ thiếu chặt chẽ (sân tập, chuyên môn, đào tạo vận động viên trẻ...).
- Cơ chế bóng đá chuyên nghiệp đòi hỏi đội bóng phải được giao cho doanh nghiệp quản lý và hạch toán, không bao cấp. Trên địa bàn thành phố không có những doanh nghiệp mạnh để đảm nhận việc quản lý đội bóng (giải 2012, mỗi một đội bóng cần 80 - 100 tỷ đồng).
- Năm 2012, hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Xi măng Việt Nam và Công ty Xi măng Hải Phòng (đơn vị quản lý đội bóng gặp nhiều khó khăn, sản phẩm không bán được, thua lỗ) nên ảnh hưởng nhiều đến việc quản lý và vận hành đội bóng. Công tác huấn luyện chuẩn bị cho mùa giải không tốt, không có chiến lược thi đấu cho cả mùa giải.
Trách nhiệm, trước hết thuộc về đơn vị chủ quản là Công ty Xi măng Hải Phòng vì theo Quy chế bóng đá chuyên nghiệp các đội bóng đá phải tự chịu trách nhiệm về công tác quản lý, xây dựng tổ chức bộ máy, công tác chuyên môn. Tiếp đến là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước của thành phố là Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch chưa thực sự tham mưu quyết liệt về xây dựng và phát triển câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp. Cao hơn nữa là trách nhiệm của lãnh đạo thành phố.
Giải pháp
- Giao công ty Xi măng Hải Phòng, Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch đánh giá lại thực chất những khó khăn, thuận lợi hoạt động của đội bóng trong cơ chế chuyên nghiệp.
- Lập đề án củng cố và phát triển đội bóng để sớm đưa đội bóng Hải Phòng trở lại ngoại hạng như mong muốn của lãnh đạo và nhân dân thành phố.
- Đẩy mạnh phát triển bóng đá phong trào. Xây dựng mô hình đào tạo trẻ, các tuyến từ U11 - U19 để đảm bảo phát triển bóng đá một cách lâu dài, bền vững.
- Nghiên cứu mô hình quản lý, cơ chế tài chính hợp lý, khả thi, lâu dài trong môi trường chuyên nghiệp cho bóng đá Hải Phòng.
9. Trung tâm Y tế, Trung tâm Dân số và Kế hoạch hóa gia đình, y tế cơ sở ở UBND huyện, quận nhưng do ngành dọc quản lý; các dự án xây dựng tuyến y tế cơ sở do Sở Y tế làm chủ đầu tư, làm hạn chế công tác chỉ đạo, quản lý, huy động nguồn lực ở cơ sở. Làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm, biện pháp khắc phục.
UBND thành phố báo cáo như sau:
Việc Sở Y tế được giao quản lý toàn diện hệ thống y tế cơ sở, Dân số và Kế hoạch hóa gia đình là thực hiện đúng quy định của Nhà nước được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật của trung ương và địa phương, cụ thể:
+ Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 4/2/2008 của Chính phủ Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
+ Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 4/2/2008 Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
+Thông tư liên tịch số 11/2005/TTLT-BYT-BNV ngày 12/4/2005 của Bộ Y tế - Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân quản lý Nhà nước về y tế ở địa phương.
+ Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT-BYT-BNV ngày 25/4/2008 của liên Bộ Y tế và Bộ Nội vụ Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Y tế, Phòng Y tế thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.
+ Quyết định số 26/2005/QĐ-UB ngày 9/9/2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành “Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Y tế dự phòng (nay là Trung tâm Y tế) huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
+ Thông tư số 05/2008/TT-BYT ngày 14/5/2008 của Bộ Y tế Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy dân số-kế hoạch hoá gia đình ở địa phương.
+ Quyết định số 685/QĐ-UBND ngày 14/4/2008 và Quyết định số 1717/2010/QĐ-UBND ngày 15/10/2010 của UBND thành phố Quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Y tế.
+ Quyết định số 868/QĐ-UBND ngày 10/6/2011 của UBND thành phố Về việc chuyển giao các trạm y tế phường, xã, thị trấn trực thuộc UBND quận, huyện về trực thuộc Trung tâm Y tế quận, huyện quản lý….
Từ tháng 7/2011, thực hiện quy định, hướng dẫn của trung ương, thành phố đã chỉ đạo bàn giao tổng số 224 trạm y tế xã, phường từ quận, huyện về Sở Y tế quản lý. Sau khi nhận bàn giao, Sở Y tế đã tập trung rà soát lại thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực của các trạm y tế để xây dựng kế hoạch đầu tư trong năm 2012 và những năm tiếp theo.
Ngày 16/12/2011, UBND thành phố có quyết định số 2058/QĐ-UBND phân bổ mua sắm trang thiết bị, sửa chữa cơ sở nhà cửa của các trạm y tế xã, phường, thị trấn trên toàn thành phố là 38 tỷ đồng; các trung tâm Dân số kế hoạch hóa gia đình được bố trí 4,1 tỷ đồng; các trung tâm y tế quận, huyện được bố trí 8,35 tỷ đồng. Thành phố cũng đã giao các trung tâm này trực tiếp làm chủ đầu tư.
Một số nguyên nhân hạn chế công tác chỉ đạo, quản lý, huy động nguồn lực ở cơ sở cho hệ thống y tế địa phương
- Do hệ thống y tế địa phương luôn bị thay đổi về tổ chức, bộ máy y tế cơ sở, nên đã làm thay đổi chủ đầu tư, làm gián đoạn nguồn vốn đầu tư từ Trung ương, thành phố, quận, huyện và xã, phường, thị trấn. Rõ nhất là dự án đầu tư xây dựng các trung tâm DS-KHHGĐ quận, huyện từ nguồn vốn của Trung ương theo cơ chế (70% Trung ương và 30% địa phương) bị gián đoạn sau khi chia tách, sáp nhập ngành Dân số vào ngành Y tế.
- Việc thực hiện cơ chế hỗ trợ nguồn lực xây dựng cơ sở vật chất cho y tế xã trong những năm gần đây gặp nhiều khó khăn, do tình hình suy thoái kinh tế. Việc huy động kinh phí từ nhiều nguồn bị chững lại.
- Các trạm y tế xã, phường, thị trấn không được thụ hưởng nguồn Trái phiếu Chính phủ, trong khi đó đầu tư xây dựng từ nguồn ngân sách của thành phố còn thấp.
- Chính sách đầu tư của Nhà nước, của địa phương đối với hệ thống y tế cơ sở chưa mạnh, chưa tập trung, chưa thống nhất trên phạm vi toàn quốc kể cả cơ chế hoạt động. Thực hiện xã hội hóa tại tuyến y tế cơ sở gặp nhiều khó khăn.
Trách nhiệm
- Ngành Y tế nhận chuyển giao trạm y tế từ quận, huyện về ngành mới được một năm, nên vừa phải rà soát lại thực trạng cơ sở vật chất vừa củng cố đội ngũ cán bộ và quy chế hoạt động của trạm y tế.
- Một số trạm y tế xã tại thời điểm bàn giao đang trong giai đoạn sửa chữa hoặc xây dựng mới do huyện, xã làm chủ đầu tư, nên khi chuyển về ngành y tế bị chậm tiến độ hoàn thiện do phải thay đổi chủ đầu tư và hoàn tất những thủ tục thanh toán khối lượng các hạng mục mà huyện, xã đã làm.
- Ngành y tế chưa kịp thời đề xuất, tham mưu với thành phố về giải pháp đầu tư nguồn lực cho y tế cơ sở sau khi chuyển về ngành quản lý.
Giải pháp khắc phục
- Tiếp tục đẩy mạnh việc triển khai thực hiện Kết luận của Ban Thường vụ Thành uỷ tại Thông báo số 55-TB/TU ngày 23/12/2011 về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới.
- Xây dựng đề án tăng cường năng lực cho hệ thống y tế cơ sở giai đoạn 2012 - 2015 và đến 2020, trình HĐND và UBND thành phố về chủ trương đầu tư theo tiêu chí đạt chuẩn quốc gia về y tế xã.
- Đề nghị Trung ương có chính sách đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng cho hệ thống y tế cơ sở bằng nguồn ngân sách tập trung và dứt điểm trong thời gian từ 2012 - 2015.
- Trong năm 2012 và 2013, xem xét cân đối ưu tiên bố trí kinh phí nâng cấp 97 trạm y tế xã, phường đang bị xuống cấp và cấp đất cho 3 xã, phường chưa có nhà làm việc đang phải thuê, ở nhờ của quận Kiến An (phường Tràng Minh & Lãm Hạ) và huyện Kiến Thụy (thị trấn Núi Đối).
- Đẩy mạnh xã hội hóa. Việc đầu tư cho y tế cơ sở, bên cạnh nguồn lực của Trung ương, của thành phố cần có sự tham gia đóng góp của quận, huyện, xã, phường và của nhân dân (theo cơ chế thành phố 70% - quận, huyện 30%).
- Khuyến khích thực hiện chủ trương các quận, huyện làm chủ đầu tư các trạm y tế xã, phường bằng nguồn vốn của địa phương và có sự hỗ trợ của thành phố.
10. Tình hình quá tải ở một số bệnh viện; thái độ ứng xử của một bộ phận y, bác sỹ gây bức xúc người bệnh, cần có giải pháp gì để cải thiện tình hình trên trong thời gian tới.
UBND thành phố báo cáo như sau:
Về tình hình quá tải ở một số bệnh viện
Hiện tại toàn thành phố có 35 bệnh viện, với 5.811 giường bệnh. Cũng như tình trạng chung của cả nước, tình trạng quá tải diễn ra ở tất cả các tuyến bệnh viện, đặc biệt là ở một số bệnh viện lớn. Có 4/9 bệnh viện tuyến thành phố và 6/16 bệnh viện tuyến huyện dưới tải.
Tình trạng quá tải thường xảy ra cục bộ tập trung tại một số chuyên khoa, như: Ung bướu, Tim mạch, Thần kinh (Việt Tiệp). Khoa tiêu hóa, hô hấp, truyền nhiễm (Trẻ em); đặc biệt hiện nay, tại Bệnh viện Trẻ em đang quá tải do điều trị mỗi ngày từ 100-150 bệnh nhân mắc bệnh tay chân miệng.
Tuy nhiên, trong hai năm gần đây, nhờ triển khai đồng bộ các biện pháp chống quá tải bệnh viện, nên tình trạng quá tải ở các bệnh viện thành phố đã được cải thiện đáng kể. Công suất sử dụng giường bệnh có xu hướng giảm đều theo các năm. Cụ thể, công suất giường bệnh trung bình của tuyến thành phố năm 2010 là 129%, năm 2011 xuống còn 123% (giảm 6%); công suất giường bệnh trung bình của tuyến quận huyện năm 2010 là 125%, năm 2011 xuống còn 117% (giảm 8%).
Nguyên nhân chính gây quá tải ở một số bệnh viện
- Cơ sở hạ tầng và đầu tư cho y tế chưa đáp ứng nhu cầu. Việc đầu tư nâng cấp hạ tầng cơ sở, trang thiết bị tại các bệnh viện đã được quan tâm. Tuy nhiên, hiện nay còn một số bệnh viện quá chật chội, xuống cấp. Tỷ lệ đầu tư cho y tế Hải Phòng mới đạt 145.000đ/người/năm (năm 2011) chưa đạt chỉ tiêu theo Nghị quyết số 04-NQ/TU của Ban thường vụ Thành ủy là 180.000đ/người/năm; thấp hơn so với trung bình cả nước (82 USD/người/năm); quá thấp so với các nước trong khu vực (Trung Quốc: 155USD, Thái Lan 261USD).
- Diễn biến phức tạp của mô hình bệnh tật. Từ tháng 5/2011 tới nay, các bệnh truyền nhiễm có xu hướng gia tăng mạnh. Đặc biệt, bệnh tay-chân-miệng, trung bình mỗi ngày có 200 ca nằm viện tại các tuyến, là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến quá tải ở Bệnh viện Trẻ em, Bệnh viện Kiến An và các quận, huyện. Tỷ lệ mắc bệnh không lây nhiễm tăng nhanh (các bệnh lý tim mạch, đột quỵ, tiểu đường, ung thư, tâm thần…).
- Tình trạng bỏ tuyến, vượt tuyến, trái tuyến gia tăng do đời sống nhân dân tăng cao, người dân có xu hướng lựa chọn các cơ sở y tế có chất lượng dịch vụ tốt nhất, phương tiện giao thông đi lại thuận lợi….
- Năng lực và trình độ chuyên môn của tuyến dưới còn hạn chế, thiếu về số lượng, yếu về trình độ chuyên môn, thiếu bác sĩ, thiếu dược sĩ trầm trọng, thiếu trang thiết bị.
Những giải pháp đã và đang tập trung giải quyết tình trạng quá tải bệnh viện.
- Giảm tổng số ngày điều trị tại bệnh viện. Củng cố, phát triển và nâng cao năng lực mạng lưới y tế dự phòng, y tế cơ sở, tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh, nâng cao sức khỏe nhân dân, hạn chế tỷ lệ phải nhập viện. Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và các dịch vụ y tế của các cơ sở y tế nhằm rút ngắn ngày điều trị nội trú trung bình. Tăng cường điều trị ngoại trú, nhất là các bệnh thông thường, những bệnh mãn tính, chỉ định nhập viện hợp lý.
- Tăng số lượng giường bệnh tại các bệnh viện. Khuyến khích thành lập thêm bệnh viện tư nhân, xây dựng kế hoạch tổng thể cho từng bệnh viện, điều chỉnh lại không gian của bệnh viện để kê thêm giường bệnh, bố trí thêm buồng bệnh.
- Điều tiết số lượng bệnh nhân các tuyến. Tiếp tục phân tuyến kỹ thuật hợp lý, tạo điều kiện cho các tuyến nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh, đặc biệt ở tuyến quận huyện và xã, phường. Thực hiện nghiêm qui định chuyển tuyến. Nâng cao năng lực hoạt động và khả năng đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của các bệnh viện tuyến quận, huyện. Quản lý và điều trị kịp thời các bệnh cấp tính ngay ở tuyến y tế cơ sở, tuyến quận, huyện để hạn chế nhu cầu khám chữa bệnh ở tuyến trên.
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện; từng bước phát triển và ứng dụng công nghệ chẩn đoán, điều trị từ xa.
Về thái độ ứng xử của một bộ phận y, bác sỹ
Trong thời gian vừa qua, có nhiều ý kiến về tình trạng thái độ đối xử, tinh thần phục vụ của y, bác sỹ, nhân viên y tế trong khám chữa bệnh chưa tốt, chậm được khắc phục, gây bức xúc cho bệnh nhân và người nhà dẫn đến có việc người dân phàn nàn, bức xúc.
Để khắc phục, ngành y tế đã nỗ lực triển khai các biện pháp cụ thể như sau:
- Phổ biến và quán triệt về quy tắc ứng xử tới toàn thể cán bộ, công chức, viên chức. Tại các bệnh viện Quy tắc ứng xử được các đơn vị đưa trên hệ thống mạng nội bộ của bệnh viện; niêm yết công khai tại bảng thông tin bệnh viện, phòng khám, phòng viện phí. Phát động thành phong trào thi đua, ký giao ước thi đua thực hiện Quy tắc ứng xử.
- Tổ chức Hội thi “Tuyên truyền về thực hiện quy tắc ứng xử ngành Y tế Hải Phòng”. Qua Hội thi, cán bộ, viên chức được học tập, hiểu biết sâu về quy định quy tắc ứng xử; đồng thời qua Hội thi giúp người dân thành phố hiểu được những khó khăn của ngành Y tế. Tổ chức Toạ đàm với chủ đề: “Tất cả vì chất lượng khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh”….
Kết quả là: qua kiểm tra cuối năm 2011 và khảo sát sự hài lòng của người bệnh tại các đơn vị 6 tháng đầu năm 2012, 90,4% người bệnh điều trị tại bệnh viện tuyến thành phố; 93,7% người bệnh điều trị tại bệnh viện tuyến quận, huyện được hỏi rất hài lòng và hài lòng với tinh thần phục vụ và giao tiếp của nhân viên y tế (một số ít bệnh nhân chưa hài lòng rơi vào trường hợp chờ khám bệnh, chờ làm xét nghiệm, thời gian được tiếp cận với dịch vụ y tế còn dài…). Số lượng đơn thư khen ngợi và hài lòng về chất lượng dịch vụ của các đơn vị tăng lên 30% so với năm 2010. Số tập thể, cá nhân của đơn vị vi phạm khuyết điểm bị phê phán, khiển trách hoặc kỷ luật giảm 30%; tình trạng đơn thư khiếu nại, tố cáo, phàn nàn về chất lượng dịch vụ của các bệnh viện đã giảm 50% so với năm 2010.
Một số giải pháp tiếp tục khắc phục trong thời gian tới:
- Tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để mỗi cán bộ, viên chức y tế nhận thức rõ được mục đích, yêu cầu việc thực hiện Quy tắc ứng xử.
- Thực hiện kiểm tra, giám sát thường xuyên bằng nhiều hình thức việc thực hiện Quy tắc ứng xử của các đơn vị. Kiểm tra đột xuất các đơn vị đang là “điểm nóng”, các đơn vị có đơn thư, khiếu kiện của người bệnh, phản ánh của báo chí, cơ quan, tổ chức, công dân. Nêu cao vai trò trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận và phản ảnh những vi phạm các quy định của Nhà nước, của ngành Y tế đối với cán bộ y tế trong ứng xử, phục vụ người bệnh.
- Kiểm tra, đánh giá những nội dung cam kết thực hiện Quy tắc ứng xử; định kỳ sơ kết, tổng kết đánh giá kết quả thực hiện Quy tắc ứng xử; xây dựng chương trình kế hoạch, giải pháp tiếp tục thực hiện những năm tiếp theo.
- Kịp thời khen thưởng và nhân rộng mô hình các tập thể, cá nhân thực hiện tốt Quy tắc ứng xử, đồng thời cương quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
11. Báo cáo UBND thành phố về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2012, số lượng tiếp công dân tăng 2,48 lần, nhận xử lý đơn thư các loại tăng 2,79 lần so với cùng kỳ; làm rõ nguyên nhân, kết quả giải quyết. Hiện nay thành phố còn bao nhiêu đơn thư, khiếu nại, tố cáo của công dân chưa giải quyết, để tồn đọng kéo dài, cần làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm, hướng khắc phục.
UBND thành phố báo cáo như sau:
Toàn thành phố có 208 đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền (bằng 129 vụ việc), trong đó đơn khiếu nại là 155, đơn tố cáo là 53 đơn. Đã giải quyết 64/81 vụ việc khiếu nại bằng 79 %; 27/48 vụ việc tố cáo, bằng 56,2 %. Như vậy, trên địa bàn thành phố hiện nay còn 38 vụ việc thuộc thẩm quyền (17 vụ việc khiếu nại, 21 vụ việc tố cáo) đang giải quyết và chưa giải quyết.
Sáu tháng đầu năm 2012, số lượng tiếp công dân tăng 2,48 lần; nhận, xử lý đơn thư tăng 2,79 lần so với cùng kỳ năm trước. Đây là sự tăng đột biến so với các năm trước đây.
Đã giải quyết hết thẩm quyền của thành phố là 16 vụ việc. Các vụ việc đang giải quyết bao gồm 04 vụ việc thuộc thẩm quyền của thành phố và 04 vụ việc thuộc thẩm quyền của cấp quận, huyện.
Nguyên nhân
- Việc quan tâm, tập trung rà soát, giải quyết dứt điểm các vụ việc phức tạp, tồn đọng còn hạn chế, thậm chí quá trình xem xét, giải quyết còn rất chậm, kéo dài thời gian, không giải quyết dứt điểm.
- Sau vụ việc cưỡng chế thu hồi đầm nuôi trồng thủy sản ngày 05/01/2012 tại xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, tình hình khiếu nại, tố cáo trên địa bàn thành phố có chiều hướng phức tạp. Một số vụ việc khiếu nại, tố cáo đã được thành phố xem xét rà soát, giải quyết hết thẩm quyền nay công dân tiếp tục tái khiếu, tái tố.
- Một số vụ việc nhiều cấp, ngành tham gia xem xét, giải quyết dẫn đến ý kiến, quan điểm giải quyết đôi khi không đồng nhất.
- Một số vụ việc thời điểm phát sinh khiếu kiện quá lâu (trên 10 năm) qua nhiều năm, áp dụng nhiều văn bản pháp luật qua các thời kỳ khác nhau nên khó áp dụng, bị chồng chéo, không khả thi, vừa thừa vừa thiếu, làm cho việc giải quyết, xử lý vụ việc không chấm dứt, triệt để được.
- Một số công dân do am hiểu pháp luật còn hạn chế, lợi dụng dân chủ, suy diễn, hoặc bị kích động, xúi giục, lôi kéo dẫn đến khiếu nại, tố cáo đông người, dai dẳng, vượt cấp.
- Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, hoàn chỉnh, luôn sửa đổi bổ sung,; cơ chế, chính sách còn nhiều bất cập. Ví dụ: về giá đất, nhất là đất nông nghiệp tại các vùng giáp ranh giữa quận, huyện, nhiều trường hợp cùng một dự án nhưng lại có sự khác biệt về mức giá bồi thường ở các thời điểm thu hồi đất khác nhau, dẫn đến phát sinh khiếu kiện gay gắt.
- Việc quản lý, lưu trữ hồ sơ, tài liệu của các cơ quan có liên quan còn chưa chặt chẽ, khoa học dẫn đến việc cung cấp tài liệu làm bằng chứng, chứng cứ phụ vụ cho công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo không đầy đủ (nhất là hồ sơ, tài liệu về quản lý đất đai), ảnh hưởng lớn đến công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung và các vụ việc tồn đọng liên quan đề đất đai nói riêng.
Một số giải pháp khắc phục
- Tập trung chỉ đạo cho các sở, ngành, quận, huyện tham gia rà soát cùng với các tổ công tác của các Bộ, ngành Trung ương, báo cáo UBND thành phố để thống nhất hướng giải quyết với các Bộ, ngành Trung ương.
- Đối với những vụ việc qua rà soát, kết luận đã giải quyết đúng pháp luật: sẽ xem xét cụ thể từng trường hợp, nếu có hoàn cảnh khó khăn, xem xét vận dụng giải pháp hỗ trợ cho người khiếu nại, tố cáo trên cơ sở vận dụng chính sách xã hội, hỗ trợ của Chủ đầu tư. Nếu công dân vẫn còn khiếu nại cần gặp gỡ, giải thích, vận động, thuyết phục công dân chấm dứt khiếu kiện.
- Đối với các vụ việc qua rà soát mà kết luận giải quyết chưa đúng pháp luật thì kiến nghị người có thẩm quyền sửa sai hoặc chỉ đạo sửa sai, điều chỉnh một phần hoặc hủy quyết định giải quyết sai trước đây và tiến hành giải quyết lại từ đầu theo đúng quy định pháp luật.
- Sau rà soát, thống nhất phương án giải quyết với các bộ, ngành trung ương từng vụ việc cụ thể, khi thống nhất xong sẽ đối thoại, vận động, thuyết phục người dân chấp nhận phương án giải quyết đã thống nhất giữa UBND thành phố và Trung ương về cách giải quyết và công bố công khai quyết định giải quyết các vụ việc này.
Trên đây là giải trình về một số nội dung kiến nghị cử tri quan tâm, UBND thành phố kính trình HĐND thành phố./.
TM. UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Đan Đức Hiệp