Như Báo Hải Phòng đưa tin, ngày 24-5-2012, Hội Khoa học phát triển nguồn nhân lực và nhân tài Hải Phòng tổ chức Đại hội lần thứ nhất nhiệm kỳ 2012 – 2017. Tại Đại hội, đồng chí Nguyễn Văn Thành, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố có bài phát biểu nêu bật ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác phát triển nguồn nhân lực, nhân tài trong bối cảnh Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân thành phố đang ra sức thực hiện Nghị quyết Đại hội 11 của Đảng, Đại hội 14 Đảng bộ thành phố, đồng thời đánh giá sơ bộ kết quả, những mặt mạnh, điểm yếu trong công tác phát triển nguồn nhân lực, nhân tài của Hải Phòng thời gian qua. Báo Hải Phòng trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung bài phát biểu của đồng chí Bí thư Thành ủy.
Đảng bộ và nhân dân thành phố đang ra sức thực hiện Nghị quyết Đại hội 14 Đảng bộ thành phố và Đại hội 11 của Đảng, bước vào thời kỳ mới, với quyết tâm động viên mọi nguồn lực, phát huy lợi thế thành phố Cảng, thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa, xây dựng, phát triển thành phố nhanh và bền vững; đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của cả nước. Nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang đó rất cần sự nỗ lực đóng góp của các nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nhân, tổ chức và mọi công dân Việt Nam có năng lực đóng góp và quan tâm đến sự nghiệp khoa học phát triển nguồn nhân lực, nhân tài cho thành phố.
Cơ cấu đào tạo, chất lượng nhân lực được nâng cao hơn
Nói về nguồn nhân lực có thể chia theo các nhóm ngành, lĩnh vực: nông, lâm, ngư nghiệp; công nghiệp xây dựng; nhân lực các ngành dịch vụ; nhân lực các ngành giao thông vận tải; nhân lực các ngành tài nguyên môi trường; nhân lực ngành du lịch; nhân lực các ngành tài chính, ngân hàng; nhân lực CNTT; nhân lực đi làm việc ở nước ngoài. Nhân lực chia theo chủ thể phát triển gồm: nhân lực đội ngũ cán bộ lãnh đạo; nhân lực đội ngũ công chức, viên chức; đội ngũ doanh nhân; đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ; đội ngũ giáo viên, giảng viên; đội ngũ cán bộ y tế; nhân lực ngành văn hóa – thể thao; nhân lực ngành tư pháp; nhân lực ngành tòa án; nhân lực ngành kinh tế biển; nhân lực ngành quốc phòng – an ninh.
Những năm qua, công tác phát triển nguồn nhân lực của thành phố đạt được những kết quả cụ thể: lao động thành phố đang có sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng CNH-HĐH chuyển nhanh sang các ngành nghề: kinh doanh tài chính, ngân hàng, kiểm toán, điện tử viễn thông, cơ khí chế tạo, đóng tàu, công nghệ vật liệu mới, công nghệ biển, kinh tế biển, logistics… Lực lượng lao động của Hải Phòng có sự gia tăng đáng kể. Số người trong độ tuổi lao động (từ 15 tuổi trở lên) tăng từ 1,19 triệu người (năm 2000) lên 1,47 triệu người (năm 2010), bằng 22,5%, vừa giúp thành phố bổ sung lực lượng lao động nhưng cũng gây sức ép về việc làm và các vấn đề an sinh xã hội.
Số người qua đào tạo có chiều hướng tăng nhanh, cơ cấu đào tạo ngày càng hợp lý, chất lượng nhân lực và trình độ đào tạo được nâng lên dần đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, năng suất lao động có xu hướng tăng. Hải Phòng có hệ thống giáo dục phát triển hơn các địa phương lân cận, hạ tầng cơ sở xã hội tốt, thành phố Hải Phòng có chỉ số giáo dục đứng thứ 3 toàn quốc với 4 trường đại học, 16 trường cao đẳng, 26 trường trung cấp chuyên nghiệp. Trường đại học Hàng hải là trường đầu tiên của Việt
Thiếu chuyên gia trình độ cao
Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực của thành phố tồn tại nhiều vấn đề đáng bàn. Số người có bằng cấp, chứng chỉ nghề thấp so với tổng số lao động qua đào tạo. Nhân lực đào tạo hằng năm tăng nhưng thiếu chuyên gia trình độ cao, thiếu công nhân lành nghề. Chất lượng nguồn nhân lực yếu kém dẫn tới năng suất lao động thấp. Khả năng sử dụng ngoại ngữ và sử dụng công nghệ thông tin làm công cụ làm việc của người lao động thành phố còn hạn chế.
Về cơ bản, nguồn nhân lực Hải Phòng có chất lượng chưa cao, kỹ năng nghề nghiệp còn thấp, còn thiếu kinh nghiệm thực tế, khả năng cạnh tranh còn hạn chế, chưa sẵn sàng cho hội nhập quốc tế, dễ tổn thương trước những biến động của kinh tế quốc tế. Tỷ lệ lao động qua đào tạo từ trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp trở lên chưa cao và có dấu hiệu giảm dần (từ 5,4% năm 2000 xuống còn 4,6% năm 2010), lao động phổ thông và lao động có chứng chỉ nghề sơ cấp còn phổ biến (chiếm 81,6%), thể hiện rõ nét sự mất cân đối và tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”. Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật giảm (từ 83,6% năm 2000 xuống còn 76% năm 2010) nhưng trong giai đoạn 2005 – 2010 hầu như không đổi (75,4% năm 2005 và 76% năm 2010). Đóng góp của yếu tố lao động vào tăng trưởng kinh tế Hải Phòng giảm mạnh (năm 2001 góp 3,05% vào tốc độ tăng trưởng GDP 10,38%, đến năm 2010 chỉ còn 0,26% trong mức tăng 10,96%) do năng suất lao động thấp và lực lượng lao động tăng chậm. Trong số lao động có việc làm và được đào tạo chuyên môn, tỷ lệ lao động có bằng đại học và trên đại học gia tăng nhanh nhất; trong đó tỷ lệ có bằng đại học tăng 6,8%, tỷ lệ có bằng trên đại học tăng 0,3% trong giai đoạn 2000 – 2010.
![]() |
| Đồng chí Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Thành và lãnh đạo Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cùng các em học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu của thành phố năm 2011. |
Quan tâm phát hiện, bồi dưỡng và đào tạo nhân tài
Nói về nhân tài, có thể hiểu đó là người có tài năng ở trình độ cao và cấp độ rộng lớn hơn, thường là của một vùng, một ngành hay quốc gia trở lên. Họ không chỉ là người thông tuệ, giàu tính sáng tạo mà còn có tâm trong sáng và một số phẩm chất nổi bật khác như: giàu nghị lực, kiên trì tự học, tự đào tạo; biết phát hiện vấn đề mới; đam mê, dũng cảm tìm cách giải quyết vấn đề một cách sáng tạo (mà trong thực tiễn chưa có) từ đó có cống hiến nổi bật (xuất sắc) cho nhân dân, cho xã hội, được cộng đồng thừa nhận, suy tôn. Bằng cấp chỉ là tiêu chí phân biệt cấp độ của học vấn chứ không thể quyết định sự xuất hiện nhân tài. Tuy nhiên, bằng cấp cao, chức danh cao, cấp bậc cao và tài năng là những thuật ngữ có liên quan với nhau. Trong những người có học vấn cao, cấp bậc cao, tần suất xuất hiện nhân tài lớn hơn ở các nhóm người khác. Tuy nhiên, muốn trở thành nhân tài còn cần nhiều yếu tố khác như thông minh, sáng tạo… Nhân tài khác người thường ở mức độ và khả năng sáng tạo. Nhân tài là người có động cơ vì lợi ích xã hội, cộng đồng, sử dụng tiềm năng và khả năng một cách sáng tạo nhất, tối đa và tối ưu, thích hợp nhất vào công việc được nêu ra và giải quyết công việc đó một cách độc đáo, có kết quả và hiệu quả cao trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, có đóng góp lớn, nổi bật, kiệt xuất cho xã hội.
Đối với nhân tài lãnh đạo, quản lý, ngoài các tiêu chí chung cần phải có những tiêu chí rất quan trọng khác, đó là: Bản lĩnh chính trị vững vàng; hiểu biết rộng; khả năng dự báo, tầm nhìn chiến lược tốt; khả năng giải quyết tốt các quan hệ giữa con người với con người, các mối quan hệ xã hội; đoàn kết được những người trong phạm vi mình lãnh đạo, quản lý; khả năng quyết đoán, kiên quyết hành động; có uy tín… “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu và càng xuống thấp”; bởi vậy, các bậc vua tài giỏi đời xưa chẳng có khi nào lại không chăm lo, nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài, bồi thêm nguyên khí. Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 – 1784) viết cách đây hơn 200 năm: “Phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng”.
Đại hội 14 Đảng bộ thành phố đề ra mục tiêu phấn đấu đưa Hải Phòng trở thành thành phố công nghiệp, dịch vụ cảng theo hướng văn minh, hiện đại vào năm 2015, phát triển ở trình độ cao hơn để góp phần tạo nền tảng vững chắc đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Quá trình thực hiện mục tiêu trên diễn ra trong bối cảnh đất nước, thành phố vừa đứng trước những thời cơ phát triển lớn, vừa phải đối mặt và vượt qua những thách thức lớn. Kinh tế Hải Phòng có độ mở lớn trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Nghị quyết Đại hội cũng khẳng định một trong 3 khâu đột phá là “ưu tiên tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao… đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”.
Tuy nhiên, thách thức hiện nay của thành phố là sự bất cập của nguồn nhân lực chất lượng cao; cán bộ lãnh đạo, quản lý tuy đông song chưa mạnh; sự am hiểu về luật pháp, hành chính, kinh tế, trình độ ngoại ngữ, tin học… còn hạn chế; cơ cấu, trình độ, độ tuổi còn mất cân đối. Nhân lực khoa học công nghệ còn mỏng và yếu, chưa đáp ứng yêu cầu nghiên cứu một số vấn đề phức tạp, đòi hỏi hàm lượng khoa học và công nghệ cao; mất cân đối về ngành nghề đào tạo, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ CNH-HĐH với yêu cầu phát triển và yếu tố đặc thù của thành phố như những ngành, lĩnh vực: công nghệ biển, công nghệ vật liệu mới, công nghệ nanô, công nghệ sinh học… Còn thiếu cán bộ đầu đàn ở một số lĩnh vực khoa học, đặc biệt là thiếu cán bộ trẻ kế cận có trình độ cao. Chất lượng nghiên cứu, hiệu quả thực tế của các đề tài nghiên cứu còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm lực, chưa gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học; lĩnh vực hoạt động còn hẹp. Việc chuẩn bị nhân lực khoa học công nghệ trong các doanh nghiệp chưa đầy đủ; năng lực làm chủ, vận hành, chuyển giao công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu…
Cần có chính sách trọng dụng nhân tài
Nguyên nhân của những yếu kém trên là do chúng ta chưa thực hiện nhất quán chính sách bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực, nhân tài và các nhóm nhân lực trình độ cao; đào tạo chưa tính toán cụ thể nhu cầu của xã hội; chính sách tuyển dụng, sử dụng thu hút nhân lực, nhân tài trong cơ quan QLNN còn bộc lộ những bất cập; việc giáo dục nhân cách, đạo đức, ý thức trách nhiệm của công dân đối với cộng đồng, đối với thành phố hạn chế.
Nghị quyết số 02 của Thành ủy về công tác cán bộ cũng đặt ra yêu cầu cao về xây dựng đội ngũ cán bộ và nguồn nhân lực chất lượng cao; đặt ra yêu cầu đổi mới toàn diện, đồng bộ về tư duy, cách thức lãnh đạo và thực hiện về công tác cán bộ và phát triển nguồn nhân lực; chỉ ra mục tiêu chung đến năm 2015, 2020 và một số chỉ tiêu cụ thể khá cao; chỉ ra 11 nhiệm vụ, giải pháp lớn và đặc biệt chỉ ra 19 chương trình, nhiệm vụ trọng tâm, đề án lớn phải hoàn thành đến năm 2013 là rất khó khăn… Trong điều kiện lực lượng cán bộ, công chức các cơ quan liên quan làm nhiệm vụ nghiên cứu đề xuất còn mỏng và chưa có nhiều kinh nghiệm thì việc thêm lực lượng tham gia nghiên cứu, tư vấn, phản biện về lý luận, thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực, nhân tài theo hướng đa chiều, sâu sắc và xã hội hóa là rất cần thiết.
Chính từ những yêu cầu mang tính khách quan nêu trên đồng thời đáp ứng nguyện vọng tham gia các hoạt động của các nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nhân, tổ chức và mọi công dân Việt Nam quan tâm đến sự nghiệp khoa học phát triển nguồn nhân lực, nhân tài cho thành phố Hải Phòng, Hội Khoa học phát triển nguồn nhân lực, nhân tài thành phố Hải Phòng được thành lập. Đây thật sự là tin vui đối với không chỉ đội ngũ các nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nhân, tổ chức và các công dân Việt Nam quan tâm đến sự nghiệp khoa học phát triển nguồn nhân lực, nhân tài cho thành phố Hải Phòng.
Thành ủy HĐND, UBND thành phố tin tưởng Hội Khoa học phát triển nguồn nhân lực, nhân tài sẽ thực hiện có hiệu quả phương hướng nhiệm vụ hoạt động của mình, qua đó đóng góp nhiều ý kiến tư vấn, phản biện với lãnh đạo thành phố về các chủ trương, quyết sách thực hiện một trong 3 khâu đột phá là “ưu tiên phát triển nguồn nhân lực, nhân tài chất lượng cao…” góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội 14 Đảng bộ thành phố.
