Nghị quyết của Ban Thường vụ Thành ủy về phát triển thương mại Hải Phòng đến năm 2015, định hướng đến năm 2020
Cập nhật lúc09:00, Thứ Sáu, 06/04/2012 (GMT+7)

Ngày 26-3-2012, đồng chí Nguyễn Văn Thành, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy ký ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TU của Ban Thường vụ Thành ủy “Về phát triển thương mại Hải Phòng đến năm 2015, định hướng đến năm 2020”.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc toàn văn Nghị quyết.

NGHỊ QUYẾT CỦA BAN THƯỜNG VỤ THÀNH UỶ

Về phát triển thương mại Hải Phòng đến năm 2015, định hướng đến năm 2020

Ngày 8-3-2012, Ban Thường vụ Thành uỷ đã tổng kết Nghị quyết số 05-NQ/TU của Ban Thường vụ Thành uỷ (khoá 13) về phát triển thương mại Hải Phòng giai đoạn 2006-2010, thảo luận, quyết định những nội dung về phát triển thương mại Hải Phòng đến năm 2015, định hướng đến năm 2020.

1. Đánh giá kết quả phát triển thương mại Hải Phòng giai đoạn 2006-2010

Qua 5 năm tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU về phát triển thương mại đã đạt được những kết quả tích cực:

(1) Thương mại thành phố phát triển liên tục, khá toàn diện, góp phần  nâng cao tốc độ tăng trưởng (GDP thương mại tăng 13,5%/năm, cao hơn tốc độ tăng 11,3%/năm của GDP chung thành phố), đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế (tỷ trọng trong GDP từ 10,5% năm 2005 lên 12,5% năm 2010), đóng góp tích cực với ngân sách (tăng 4 lần), ổn định giá cả, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống của nhân dân thành phố; tiếp tục củng cố vai trò trung tâm bán buôn, bán lẻ vùng duyên hải Bắc Bộ, từng bước xác lập vai trò trung tâm thương mại, xuất khẩu lớn của khu vực phía Bắc. 

(2) Hạ tầng thương mại từng bước phát triển theo hướng văn minh, hiện đại, đồng bộ. 

(3) Lực lượng làm thương mại, xuất khẩu phát triển nhanh về số lượng, từng bước nâng chất lượng, với sự tham gia của các thành phần kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài.

(4) Phương thức kinh doanh đa dạng, linh hoạt trên các địa bàn, cả trên biển, đảo; phát triển thêm các kênh phân phối hiện đại, đứng thứ 3 cả nước về tốc độ, tỷ trọng bán lẻ qua kênh hiện đại; thương mại điện tử phát triển nhanh nhờ sự hỗ trợ của hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại và hệ thống thanh toán của ngân hàng. 

(5) Thị trường nội địa phát triển đa dạng, có sự đổi mới về cơ cấu, thị trường khu vực nông nghiệp, nông thôn từng bước được quan tâm. Thực hiện việc cung ứng hàng hoá ngày càng phong phú đa dạng, đáp ứng khá tốt nhu cầu sản xuất và tiêu dùng.

(6) Thị trường xuất khẩu được mở rộng (tăng 32 thị trường). Cơ cấu nhóm, mặt hàng xuất khẩu chuyển dịch tích cực, tăng tỷ trọng các nhóm, mặt hàng đã qua chế biến, một số sản phẩm đã có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Đã có 5 nhóm hàng xuất khẩu chủ lực đạt kim ngạch trên 100 triệu USD vào năm 2010. 

(7) Thị trường nhập khẩu hướng vào các nước có công nghệ cao; cơ cấu mặt hàng xuất khẩu có sự chuyển dịch tích cực, tăng tỷ trọng nhóm hàng công nghệ, máy móc, thiết bị, phụ tùng, nguyên liệu phục vụ sản xuất.

(8) Quản lý nhà nước về thương mại được đổi mới, tập trung xây dựng các quy hoạch phát triển thương mại; tăng cường quản lý thị trường, giá cả, chống buôn lậu, gian lận thương mại; thực hiện bảo hộ sở hữu trí tuệ. Quan tâm xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin thị trường…

2. Những hạn chế, thách thức và nguyên nhân

2.1. Hạn chế, thách thức

(1) Hoạt động thương mại, xuất khẩu chưa khai thác hết lợi thế thành phố cảng, công nghiệp, cửa ngõ chính ra biển của miền Bắc, chưa thực sự trở thành trung tâm thương mại lớn của cả nước, trung tâm xuất nhập khẩu, trung tâm bán buôn (phát luồng) của khu vực phía Bắc (quy mô bán lẻ đứng thứ 6 cả nước, tốc độ thấp hơn bình quân cả nước 24%/26,3%; đứng thứ 3 miền Bắc về kim ngạch xuất khẩu).

(2) Hạ tầng thương mại còn nhiều hạn chế, phát triển chưa đều giữa các địa bàn, khu vực. Trung tâm thương mại phát triển chậm; hệ thống chợ chưa được đầu tư cải tạo, nâng cấp đúng tầm, chậm được chuyển đổi mô hình (3,5% số chợ được chuyển đổi). Chưa hình thành chợ đầu mối có vai trò vùng, sàn giao dịch hàng hoá xuất nhập khẩu.

(3) Lực lượng doanh nghiệp hoạt động thương mại - dịch vụ phần lớn quy mô vừa và nhỏ, tiềm lực tài chính yếu, chưa nắm giữ hệ thống hạ tầng bán hàng  phủ khắp thành phố và vươn ra các địa phương. Thiếu doanh nghiệp thương mại đủ năng lực đảm nhận vai trò nòng cốt trong điều tiết thị trường.

(4) Vai trò bán buôn, làm đầu mối phát luồng hàng chưa rõ; bán lẻ còn manh mún, năng suất thấp.

(5) Ở thị trường nông thôn, doanh nghiệp thương mại chưa thể hiện rõ vai trò; việc liên kết, hợp tác giữa doanh nghiệp - nông dân còn hạn chế. Dịch vụ đầu ra cho kinh tế hộ, sản xuất nông nghiệp chưa chuyên nghiệp; chưa đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm của nông sản đến tận người tiêu dùng.

(6) Tốc độ mở rộng thị trường xuất khẩu chậm, chưa đạt được mục tiêu   đề ra (82/90 thị trường). Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu không ổn định, bình quân còn thấp hơn một số địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ (Vĩnh Phúc, Hà Nội). Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu vẫn là gia công, giá trị gia tăng và hàm lượng chất xám, công nghệ cao trong sản phẩm thấp (46% kim ngạch xuất khẩu là giày dép, may mặc). Chưa tạo ra được thêm nhiều sản phẩm xuất khẩu có giá trị kim ngạch lớn. Sản phẩm xuất khẩu có thương hiệu còn ít, kể cả sản phẩm làng nghề truyền thống. Nông sản, thuỷ sản xuất khẩu chưa tạo lập được nguồn nguyên liệu ổn định. Quan hệ liên kết giữa Hải Phòng với các địa phương chưa phát huy vai trò trong xuất khẩu.

(7) Các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động thương mại phát triển chưa thật đồng bộ với yêu cầu phát triển nhanh theo hướng văn minh, hiện đại.

(8) Công tác quản lý nhà nước và điều hành thị trường hàng hoá còn nhiều hạn chế, nhất là công tác quy hoạch, quản lý thực hiện quy hoạch, thị trường, giá cả, chất lượng hàng hóa… còn nhiều đầu mối; sự phối hợp của các ngành còn thiếu chặt chẽ. Công tác xúc tiến thương mại còn nhiều hạn chế, hiệu quả thấp. 

(9) Nhân lực thương mại còn chưa đáp ứng yêu cầu về nhiều mặt; trình độ chuyên môn, luật quốc tế, thương mại quốc tế, ngoại ngữ chưa đáp ứng yêu cầu. Thiếu nhân lực am hiểu thị trường, hàng hoá.

2.2. Nguyên nhân

Nguyên nhân khách quan

(1) Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, kinh tế thế giới, biến đổi khí hậu toàn cầu, thiên tai, dịch bệnh.

(2) Các chủ trương, chính sách hội nhập kinh tế quốc tế chậm được thể chế hoá. Chưa xây dựng được hàng rào kỹ thuật thương mại phù hợp với quy định của WTO.

(3) Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách của Nhà nước về thương mại, xuất nhập khẩu chưa thật hoàn chỉnh và đồng bộ, thường xuyên thay đổi.

Nguyên nhân chủ quan

(1) Ý thức chấp hành tổ chức thực hiện Nghị quyết về phát triển thương mại ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, cấp uỷ đơn vị còn hạn chế. Một số ngành, địa phương chưa thật tích cực, chủ động, xây dựng chương trình hành động, đề án thực hiện.

(2) Một số cấp uỷ, chính quyền địa phương chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của phát triển thương mại đối với phát triển kinh tế - xã hội địa phương, trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nên thiếu chủ động, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển thương mại.

(3) Công tác quản lý nhà nước về thương mại còn nhiều hạn chế, sự phối hợp chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ; công tác quy hoạch chậm, chất lượng quy hoạch thấp chưa theo kịp yêu cầu phát triển, nên thiếu công cụ quản lý. Năng lực một bộ phận cán bộ hạn chế, chưa năng động, sáng tạo, đáp ứng kịp yêu cầu nhiệm vụ. Sau khi hợp nhất Sở Công nghiệp và Sở Thương mại, tổ chức bộ máy chưa đáp ứng yêu cầu, công tác tham mưu chỉ đạo, quản lý nhà nước về thương mại thiếu quyết liệt.

(4) Môi trường đầu tư sản xuất-kinh doanh của thành phố chưa thật thông thoáng; công tác xúc tiến đầu tư, thương mại kết quả chưa cao. Chưa quan tâm thích đáng trong nghiên cứu xây dựng, thực hiện các cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển thương mại phù hợp khi Việt Nam là thành viên của WTO…

3. Quan điểm về phát triển thương mại

(1) Phát huy vị thế thành phố cảng, trung tâm công nghiệp, dịch vụ, thương mại của khu vực phía Bắc, phát triển sản xuất để tăng nhanh xuất khẩu và đáp ứng thị trường trong nước, thúc đẩy điều chỉnh cơ cấu kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế thành phố theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giải quyết việc làm.

(2) Củng cố, giữ được các đối tác, thị trường, đồng thời mở rộng đa dạng hoá thị trường xuất khẩu; chủ động tham gia vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu; chú trọng sản xuất, xuất khẩu hàng hoá có giá trị gia tăng cao, có thương hiệu trên thị trường trong nước và quốc tế.

(3) Tích cực chủ động hoàn thiện các cơ chế thương mại phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Các hoạt động thương mại phải được thực hiện theo nguyên tắc phát triển lành mạnh, văn minh, đúng pháp luật; bảo đảm được sự bình ổn hợp lý của thị trường.

(4) Củng cố và phát triển các doanh nghiệp phân phối thuộc mọi thành phần kinh tế, kết hợp giữa yêu cầu phát triển các doanh nghiệp phân phối của Hải Phòng có qui mô lớn với yêu cầu tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ kinh doanh tham gia thị trường.

Đến năm 2015, thành phố sẽ phát triển thêm từ 5 đến 7 trung tâm thương mại. Trong ảnh: Khách chọn mua hàng tại Trung tâm thương mại Parkson.
Đến năm 2015, thành phố sẽ phát triển thêm từ 5 đến 7 trung tâm thương mại. Trong ảnh: Khách chọn mua hàng tại Trung tâm thương mại Parkson.

4. Mục tiêu phát triển thương mại đến năm 2015 và năm 2020

4.1. Mục tiêu tổng quát

Xây dựng Hải Phòng trở thành trung tâm thương mại, trung tâm xuất nhập khẩu lớn của cả nước, cửa ngõ giao thương với nước ngoài của khu vực phía Bắc và hai hành lang, một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc. Thương mại Hải Phòng phát triển theo hướng văn minh, hiện đại, thân thiện với môi trường, đóng góp tích cực vào tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu và tái cấu trúc nền kinh tế, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách thành phố; đóng vai trò quan trọng vào quá trình điều tiết, bảo đảm cân đối cung cầu hàng hóa thiết yếu cho khu vực phía Bắc; là động lực cho kinh tế thành phố chủ động hội nhập sâu hơn vào kinh tế quốc tế.

4.2. Mục tiêu cụ thể

a. Mục tiêu giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015

- GDP thương mại tăng bình quân 15,5%/năm; chiếm 25% GDP dịch vụ, 14% GDP thành phố vào năm 2015. Tổng mức bán lẻ hàng hoá tăng bình quân 25,5%/năm, đến năm 2015 đạt 100.000 tỷ đồng. Tỷ trọng loại hình bán lẻ hiện đại chiếm 27% trong tổng mức bán lẻ thành phố vào năm 2015.

- Phát triển thêm 5-7 trung tâm thương mại, 5-10 siêu thị; có tổng số 147 chợ, 20% - 30% tổng số chợ chuyển đổi thành công mô hình quản lý, kinh doanh chợ.

- Số lượng thị trường xuất khẩu đạt 100 thị trường vào năm 2015. Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 15,6%/năm - 16,5%/năm, đến năm 2015 đạt 4 - 4,5 tỷ USD, bình quân 2.000 USD/người.

- Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá tăng bình quân 16%/năm, đến năm 2015  đạt dưới 4-4,5 tỷ USD.

b. Mục tiêu giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020

- GDP thương mại tăng bình quân 17,5%/năm. Tổng mức bán lẻ hàng hoá tăng bình quân 26,5%/năm, đến năm 2020 đạt 320.000 tỷ đồng. Tỷ trọng bán lẻ của các loại hình bán lẻ hiện đại chiếm 40% trong tổng mức bán lẻ thành phố vào năm 2020.

- Phát triển thêm 6 trung tâm thương mại, 4 siêu thị; 50% tổng số chợ chuyển đổi thành công mô hình quản lý, kinh doanh chợ.

- Số lượng thị trường xuất khẩu đạt 120 thị trường. Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 20%/năm, đến năm 2020 đạt trên 10 tỷ USD, bình quân 3.850 USD/người.

- Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá tăng bình quân 17%/năm, đến năm 2020 đạt kim ngạch nhập khẩu ước đạt 10 tỷ USD vào năm 2020.

5. Những định hướng chủ yếu

5.1. Định hướng phát triển thương mại nội địa

Phát triển 3 nhóm thị trường:

(1) Thị trường thành phố: đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm, cung ứng  hàng hoá cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các đơn vị, doanh nghiệp và nhu cầu tiêu dùng hàng hoá - dịch vụ của nhân dân; giữ ổn định thị trường. Củng cố mạng lưới thương mại từ cấp thành phố đến các xã và trên khắp các địa bàn từ thành thị đến nông thôn, biển, đảo, hình thành một thị trường thông suốt, thúc đẩy sản xuất phát triển và đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Đẩy mạnh việc thực hiện chủ trương ”Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.

(2) Thị trường vùng duyên hải Bắc Bộ, vùng đồng bằng sông Hồng và miền Bắc: khai thác, phát huy có hiệu quả lợi thế cửa chính ra biển của các tỉnh phía Bắc, chú trọng phát triển kinh doanh hàng xuất, nhập khẩu, các nhóm, ngành hàng: công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng, sắt, thép, sản phẩm plastic, hàng nông sản lương thực, thực phẩm, hải sản...

(3) Thị trường miền Trung, miền Nam: khai thác, phát huy có hiệu quả lợi thế cảng biển và các tuyến hàng không Hải Phòng - thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng - Đà Nẵng.

5.2. Định hướng phát triển xuất khẩu

Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Giữ vững và phát triển các thị trường truyền thống như: EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga; tận dụng các Hiệp định thương mại tự do, lộ trình cắt giảm thuế quan để đẩy mạnh xuất khẩu, mở rộng thị trường nhất là các thị trường tiềm năng như châu Mỹ, châu Phi, thị trường Trung cận Đông, Nam Á.

Xuất khẩu theo mô hình phát triển bền vững, chú trọng phát triển theo chiều sâu; tích cực và chủ động tham gia vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu; sản xuất, xuất khẩu các mặt hàng có giá trị gia tăng cao, chế biến sâu, có hàm lượng công nghệ cao, thân thiện với môi trường.

Tập trung, tạo điều kiện để phát triển 4 nhóm ngành hàng, dịch vụ xuất khẩu sau:

(1) Nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo có lợi thế so sánh của thành phố:phát triển sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao; phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tỷ lệ giá trị trong nước, giảm phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu.

(2) Nhóm các hoạt động dịch vụ tổng hợp và chuyên ngành: dịch vụ cảng biển và cung ứng tàu biển; dịch vụ xuất nhập khẩu (bao gồm: dịch vụ quá cảnh hàng hoá, vận chuyển hàng hoá quá cảnh, chuyển khẩu, gia công tái chế, giám định hàng hoá, bán hàng miễn thuế); xuất khẩu lao động; dịch vụ du lịch, dịch vụ vận tải; bưu chính viễn thông; tài chính, bảo hiểm, ngân hàng, y tế, giáo dục,...

(3) Nhóm hàng thủy hải sản, nông sản, thực phẩm: nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng; chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu hướng mạnh vào chế biến sâu, công nghệ quản lý sau thu hoạch với yêu cầu quản lý chặt chẽ từ khâu nuôi, chế biến đến thị trường tiêu thụ; phát triển sản phẩm xuất khẩu có ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến.

(4) Nhóm hàng mới: rà soát các mặt hàng mới có kim ngạch hiện nay còn thấp nhưng có tiềm năng tăng trưởng cao trong thời gian tới để có các chính sách khuyến khích phát triển, tạo sự đột phá trong xuất khẩu.

5.3. Định hướng nhập khẩu

Thu hút phát triển các ngành công nghiệp sản xuất thay thế nhập khẩu, đặc biệt quan tâm đến công nghiệp phụ trợ, công nghiệp sản xuất nguyên, phụ liệu phục vụ các ngành hàng xuất khẩu; khuyến khích nhập khẩu nhóm hàng máy móc thiết bị, công nghệ cao, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường phục vụ cho phát triển sản xuất. Hạn chế nhập khẩu hàng hoá tiêu dùng (nhất là các hàng hoá, sản phẩm trong nước đã sản xuất).

5.4. Định hướng phát triển kết cấu hạ tầng thương mại

Phát triển đồng bộ cả 4 nhóm kết cấu hạ tầng thương mại: hạ tầng xuất, nhập khẩu; hạ tầng bán buôn; hạ tầng bán lẻ và trung tâm hội chợ triển lãm thương mại.

 (1) Đối với khu vực đô thị: không phát triển thêm chợ ở khu vực nội thành, tập trung nâng cấp, cải tạo, sắp xếp lại mạng lưới chợ hiện có; tập trung phát triển các loại hình thương mại hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện ích; quy hoạch, sắp xếp một số phố ẩm thực, phố mua sắm tại các khu trung tâm, đông dân cư.

(2) Đối với khu vực nông thôn, biển, đảo: tập trung cải tạo, nâng cấp và xây mới để bảo đảm có đủ chợ dân sinh với quy mô chợ hạng 3 phục vụ khu vực  xã, liên xã; chợ hạng 2 phục vụ khu vực thị trấn, thị tứ; xây dựng một số siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng chuyên doanh có quy mô phù hợp tại trung tâm các huyện. Quy hoạch, hình thành loại hình chợ trên biển tại Bạch Long Vỹ, Cát Hải đáp ứng yêu cầu phát triển các hoạt động khai thác biển.

(3) Phát triển kết cấu hạ tầng thương mại phục vụ liên vùng, như: trung tâm logistics, khu phi thuế quan, sàn giao dịch hàng hóa, trung tâm bán buôn, tổng kho đầu mối, chợ đầu mối… tại Khu Kinh tế Đình Vũ - Cát Hải, đặc biệt tại khu vực Cảng cửa ngõ quốc tế; khu vực gần đường giao thông kết nối với các địa phương.

5.5. Phát triển đội ngũ thương nhân

Xây dựng, phát triển đội ngũ thương nhân thành phố từng bước lớn mạnh, tham gia tích cực vào quá trình phát triển nhanh thị trường trong và ngoài nước. Phát triển nhanh các doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp phân phối lớn có phạm vi hoạt động rộng với nhiều phương thức và hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng phù hợp.

Đến năm 2015, thành phố sẽ phát triển thêm từ 5 đến 10 siêu thị. Trong ảnh: Khách chọn mua hàng tại siêu thị Big C.
Đến năm 2015, thành phố sẽ phát triển thêm từ 5 đến 10 siêu thị. Trong ảnh: Khách chọn mua hàng tại siêu thị Big C.

6. Nhiệm vụ và giải pháp

6.1. Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về thương mại; phát huy vai trò của hệ thống chính trị đối với sự phát triển thương mại thành phố

Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của các cấp, ngành, đoàn thể, các cơ quan, đơn vị, toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân thông qua nhiều hình thức đa dạng, phong phú về tiềm năng, lợi thế và vị trí, vai trò thành phố đối với miền Bắc, cả nước và trong chiến lược hợp tác 2 hành lang, một vành đai kinh tế Việt Nam - Trung Quốc; đồng thời xác định rõ vai trò, vị trí và tầm quan trọng của thương mại đối với sự phát triển kinh tế - xã hội thành phố trong thời kỳ đẩy mạnh hội nhập quốc tế.

Nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, cán bộ, đảng viên đối với nhiệm vụ phát triển thương mại.

6.2. Tập trung xây dựng quy hoạch phát triển thương mại đáp ứng yêu cầu phát triển mới

Khẩn trương hoàn thành các quy hoạch định hướng phát triển thương mại; tập trung quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại theo 4 nhóm:

(1) Quy hoạch kết cầu hạ tầng xuất - nhập khẩu thành phố

Định hướng phân bố không gian kết cấu hạ tầng xuất nhập khẩu tại khu vực cảng biển, Khu kinh tế Đình Vũ-Cát Hải, các khu, cụm công nghiệp, các tuyến hành lang, vành đai kinh tế tạo sự liên kết chuỗi.

(2) Quy hoạch kết cấu hạ tầng bán buôn

Định hướng không gian tại các trung tâm nuôi trồng, khai thác, chế biến thuỷ sản, các khu vực quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp có quy mô, có sản lượng lớn. Quy hoạch các loại hình chợ bán buôn, chợ đầu mối nguyên, phụ liệu cho ngành công nghiệp. Trung tâm bán buôn, kho hàng, tổng kho đầu mối.

(3) Quy hoạch kết cầu hạ tầng thương mại bán lẻ

Định hướng quy hoạch gắn với sự hình thành phát triển đô thị, các cụm điểm, tuyến dân cư trên địa bàn thành phố gắn với mô hình phát triển theo quy hoạch xây dựng nông thôn mới. Định hướng loại hình bán lẻ truyền thống, loại hình bán lẻ hiện đại.

(4) Quy hoạch trung tâm hội chợ triển lãm thương mại

Củng cố phát triển trung tâm hội chợ thương mại hiện có gắn với quy hoạch hạ tầng thương mại bán buôn, bán lẻ.

6.3. Tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường

a. Xúc tiến thương mại

Tăng cường công tác xúc tiến thương mại; xây dựng hệ thống cung cấp thông tin bảo đảm tin cậy, kịp thời về thị trường trong nước, ngoài nước, luật pháp, chính sách và tập quán buôn bán của các thị trường. Hỗ trợ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đăng ký thương hiệu, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, nhãn hiệu trên thị trường; áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế. Phối hợp chặt chẽ, tranh thủ sự giúp đỡ của các tham tán, tùy viên thương mại của Việt Nam ở nước ngoài. Phát triển đại diện thương vụ, thương mại, quan tâm sử dụng phương thức công tác viên là các chuyên gia, cán bộ có kinh nghiệm, am hiểu thương mại, thị trường đã nghỉ hưu.

b. Phát triển thị trường nội địa

Khuyến khích phát triển các mô hình liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp thương mại với các hộ nông dân theo hướng ổn định, lâu dài, lợi ích hợp lý, sản xuất hàng hoá tập trung, chuyên môn hoá cao, đảm bảo an toàn vệ sinh, thực phẩm, đáp ứng tiêu chuẩn để đưa vào bán tại các siêu thị, trung tâm thương mại lớn và xuất khẩu.

Đẩy mạnh quá trình liên kết giữa thị trường Hải Phòng với thị trường các tỉnh, thành phố khác trên tuyến thương mại Bắc - Nam, đặc biệt là với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và khu vực phía Bắc; tạo điều kiện cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh mở rộng quan hệ trao đổi buôn bán, xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường, tổ chức hội chợ triển lãm; xây dựng kế hoạch phối hợp thực hiện tốt công tác phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại xâm nhập vào nội địa.

c. Phát triển thị trường ngoài nước

Duy trì và mở rộng thị phần hàng hóa xuất khẩu của Hải Phòng tại các thị trường trọng điểm truyền thống; từng bước mở rộng các thị trường xuất khẩu mới có tiềm năng.

Tạo điều kiện, giới thiệu các doanh nghiệp sản xuất, thương mại thành phố hợp tác với cộng đồng người Việt Nam, người Hải Phòng ở nước ngoài để đưa hàng hóa do các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu vào hệ thống phân phối tại nước nhập khẩu.

6.4. Xây dựng, phát triển đội ngũ thương nhân thành phố

Khẩn trương rà soát đánh giá lại thực trạng các doanh nghiệp thương mại, nhất là doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã để có giải pháp định hướng tái cơ cấu phù hợp. Quan tâm định hướng phát triển một số doanh nghiệp lớn theo mô hình tổng công ty, nhóm công ty (tập đoàn).

Nghiên cứu, xây dựng phương án thành lập sở giao dịch hàng hóa, trung tâm bán buôn theo mô hình công ty cổ phần với các cổ đông là các chủ đầu tư kinh doanh chợ đầu mối, các ngân hàng, các nhà bán lẻ, các nhà kinh doanh bất động sản.

Tạo điều kiện để các doanh nghiệp phát triển hệ thống phân phối đồng bộ từ khâu tổ chức nguồn hàng cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu, tổ chức lưu thông và cung cấp các dịch vụ logistics, dịch vụ bán hàng thuộc các lĩnh vực, ngành hàng quan trọng trong nền kinh tế.

Tạo điều kiện để các doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ kinh doanh liên kết, hợp tác kinh doanh phát triển thị trường, xây dựng hệ thống đại lý bán hàng, xây dựng mạng lưới cửa hàng nhượng quyền thương mại.

6.5. Đào tạo, phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm thương mại

Xây dựng, điều chỉnh chiến lược, kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển thương mại. Mở rộng hình thức đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về thương mại kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, luật pháp thương mại quốc tế, văn hoá công sở. Thông qua các tổ chức hiệp hội, như Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ, Chi nhánh VCCI Hải Phòng, để hỗ trợ, tạo điều kiện các doanh nghiệp thương mại trong đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển hội nhập kinh tế quốc tế, như: đào tạo giám đốc doanh nghiệp, cán bộ quản trị doanh nghiệp, quản trị chuỗi cung ứng, quản lý trung tâm logistics... và đào tạo các nhân viên có kỹ năng hiện đại, chuyên nghiệp trong nghiệp vụ kinh doanh thương mại. Chú ý việc đào tạo nâng cao ý thức thực hiện văn minh thương mại.

Quan tâm tuyên truyền, hướng dẫn, tập huấn cho các chủ hộ kinh doanh thương mại về pháp luật thương mại, văn minh, văn hóa thương mại, vệ sinh, an toàn thực phẩm, kỹ năng bán lẻ.

Khuyến khích các doanh nhân giỏi, nhất là doanh nhân người Hải Phòng đang kinh doanh tại các tỉnh, thành trong nước và ngoài nước về đầu tư, kinh doanh tại Hải Phòng.

6.6. Phát triển kết cấu hạ tầng, các loại hình dịch vụ hỗ trợ phát triển thương mại và phát triển thương mại điện tử

Đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm trên địa bàn thành phố. Hoàn thiện cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp, Khu Kinh tế Đình Vũ - Cát Hải. Phát triển các khu đô thị mới theo quy hoạch hướng văn minh, hiện đại.

Phát triển nhanh các loại hình dịch vụ hỗ trợ thương mại, như: ngân hàng, viễn thông, vận tải, kho bãi, tạm nhập, tái xuất, chuyển tải, quá cảnh, đại lý hàng hải; chú trọng phát triển các loại hình dịch vụ có nhiều tiềm năng như: giám định hàng hoá, bảo hiểm, kiểm toán, nhượng quyền thương mại.

Đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử. Khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ cho thương mại điện tử tương thích với hệ thống tiêu chuẩn quốc tế; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển công nghệ phần mềm; thiết lập và sử dụng hệ thống thư điện tử với tên miền dùng riêng của doanh nghiệp, xây dựng website, tham gia các sàn giao dịch thương mại điện tử nhằm quảng bá thương hiệu và sản phẩm của doanh nghiệp; áp dụng hệ thống thanh toán điện tử.

6.7. Tăng cường nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về thương mại

Rà soát, đánh giá việc thực hiện sắp xếp lại hệ thống tổ chức, bộ máy, cán bộ quản lý nhà nước về thương mại sau hợp nhất 2 ngành công nghiệp và thương mại để xem xét điều chỉnh, bổ khuyết kịp thời đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành công nghiệp và thương mại thành phố.

Đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, thương nhân mở rộng, phát triển hoạt động thương mại. Xây dựng, hoàn thiện quy chế phân cấp, phối hợp hoạt động giữa các sở, ban, ngành, địa phương trong quản lý nhà nước về thương mại, quản lý giá cả, chất lượng hàng hóa và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Quản lý thực hiện tốt các quy hoạch về thương mại. Rà soát, xây dựng thực hiện kế hoạch với lộ trình phù hợp xóa các chợ tạm, chợ cóc; sắp xếp lại trật tự kinh doanh trên các tuyến phố, quản lý tốt hoạt động quảng cáo, tiếp thị, xây dựng thực hiện văn minh thương mại, nếp sống văn minh đô thị.

Nghiên cứu, áp dụng linh hoạt, hiệu quả các công cụ kinh tế, hành chính và tuyên truyền, giáo dục để thương nhân thực hiện tốt các chính sách của nhà nước về phát triển thị trường, ổn định giá cả trong nền kinh tế. Thực thi các chính sách vĩ mô tích cực, hiệu quả và can thiệp kịp thời vào thị trường những lúc, những nơi cần thiết (vùng sâu, vùng xa, hải đảo, dịp lễ tết...).

Thực hiện nghiêm quy định của UBND thành phố quy định danh mục các dự án công nghiệp khuyến khích đầu tư, không chấp thuận đầu tư trên địa bàn Hải Phòng. Hỗ trợ, khuyến khích đầu tư vào sản xuất hàng hoá đáp ứng nhu cầu trong nước, hạn chế đầu tư khu vực phi sản xuất, đẩy mạnh hỗ trợ đầu tư sản xuất hàng hoá có sức cạnh tranh của thành phố.

7. Điều kiện đảm bảo thực hiện

7.1. Huy động vốn đầu tư để phát triển hạ tầng thương mại

Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước để xây dựng hạ tầng thương mại thành phố theo quy hoạch, nhất là loại hình thương mại hiện đại.

Khẩn trương rà soát, ban hành các quy định hướng dẫn cụ thể, xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư, xây dựng, nâng cấp chợ, đấu thầu khai thác, kinh doanh chợ để khắc phục tình trạng xuống cấp về hạ tầng của chợ, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm và phòng chống cháy nổ.

Tranh thủ ngân sách Trung ương để xây dựng 1-2 chợ đầu mối thủy sản tại Cát Bà và Bạch Long Vỹ.

7.2. Dành đủ quỹ đất đáp ứng yêu cầu phát triển kết cấu hạ tầng thương mại

Căn cứ quy hoạch phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại, các  quy hoạch xây dựng phát triển đô thị, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, phải dành quỹ đất cho phát triển kết cấu hạ tầng thương mại, nhất là kết cấu hạ tầng thương mại hiện đại quy mô lớn có ảnh hưởng đến phạm vi vùng và cả nước; kết hợp phát triển hợp lý các loại hình kết cấu hạ tầng thương mại để sử dụng quỹ đất một cách hiệu quả.

Xây dựng, thực hiện quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng thương mại nông thôn phải gắn với Chương trình xây dựng nông thôn mới.

8. Tổ chức thực hiện

- Giao Ban Tuyên giáo Thành uỷ, các cấp uỷ Đảng tuyên truyền, phổ biến, quán triệt toàn diện, sâu sắc nội dung Nghị quyết này tới các cơ quan, tổ chức, cán bộ, đảng viên và nhân dân thành phố.

- Giao Ban Cán sự Đảng UBND thành phố xây dựng Chương trình hành động cụ thể hoá Nghị quyết thành các dự án, chương trình theo từng giai đoạn đến năm 2020; chỉ đạo các cấp, ban, ngành, cơ quan, đơn vị liên quan căn cứ chức năng, nhiệm vụ xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể để thực hiện; định kỳ hàng năm sơ kết, rút kinh nghiệm, bổ khuyết kịp thời việc thực hiện.

- Các cấp uỷ đảng, đảng đoàn, ban cán sự đảng căn cứ tình hình và nhiệm vụ của địa phương, đơn vị mình để cụ thể hóa, xác định mục tiêu, nội dung, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện.

- Giao Văn phòng Thành uỷ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Nghị quyết; định kỳ báo cáo tình hình, kết quả thực hiện và tham mưu đề xuất để Ban Thường vụ Thành uỷ bổ khuyết chỉ đạo kịp thời.

T/M BAN THƯỜNG VỤ

                                                                                                                        BÍ THƯ

                    Nguyễn Văn Thành

Ý kiến của bạn
Họ tên
Email
Tiêu đề
Nội dung