Nghị quyết của BCH Đảng bộ thành phố (Khóa 14) về phát triển và quản lý đô thị Hải Phòng đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050
Cập nhật lúc08:38, Thứ Sáu, 10/02/2012 (GMT+7)

 

Ngày 3-1-2012, Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố (khóa 14) ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TU về phát triển và quản lý đô thị Hải Phòng đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050. Báo Hải Phòng trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết tới bạn đọc.

Ngày 19-10-2011, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố (khóa 14) thảo luận thống nhất đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU, ngày 10-5-2002 của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố (khoá 12) về phát triển và quản lý đô thị Hải Phòng đến năm 2010; quyết định những nội dung về phát triển và quản lý đô thị Hải Phòng đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050. 

 

1. Đánh giá kết quả quản lý và phát triển đô thị Hải Phòng giai đoạn 2001-2010

1.1. Những kết quả nổi bật:

Qua 10 năm tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU về phát triển và quản lý đô thị của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố (khoá 12), tốc độ phát triển đô thị khá nhanh; quy mô, kích cỡ và không gian đô thị được mở rộng, diện tích tăng 4,7 lần (từ 7.359 ha lên 34.289 ha), dân số tăng 1,45 lần (từ 590.200 người lên 858.800 người) so với năm 2002; phát triển thêm 3 quận mới với 21 phường và dân số đô thị tăng thêm 198.600 người. Cùng với quy hoạch phát triển đô thị, công tác quy hoạch nông thôn được quan tâm, phê duyệt quy hoạch chi tiết 16 thị trấn, thị tứ, điểm dân cư nông thôn.

Các khu đô thị cũ từng bước tập trung nâng cấp, cải tạo chỉnh trang. Căn cứ quy hoạch chung xây dựng thành phố đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050, tập trung lập các quy hoạch kết cấu hạ tầng đô thị đáp ứng các yêu cầu phát triển bền vững như: quy hoạch cấp nước, quy hoạch thoát nước, quy hoạch sử dụng điện năng, quy hoạch thu gom và xử lý chất thải, quy hoạch bảo vệ các nguồn tài nguyên đất, tài nguyên nước và tài nguyên khoáng sản; trong lĩnh vực xã hội lập các quy hoạch văn hoá, thể dục thể thao, du lịch, y tế... Bộ mặt đô thị Hải Phòng có bước chuyển biến tích cực theo các tiêu chí đô thị sáng, xanh, sạch đẹp.

Thiết kế đô thị và quy hoạch ngành nghề đô thị được quan tâm, hình thành các ngành kinh tế trên cơ sở phát huy tiềm năng lợi thế thành phố cảng biển, trung tâm vùng duyên hải Bắc Bộ như: quy hoạch khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải; quy hoạch 17 khu công nghiệp, 30 cụm công nghiệp. Xây dựng chiến lược phát triển cảng, dịch vụ cảng, lĩnh vực kinh tế biển, logistics, kinh tế thuỷ sản bao gồm các lĩnh vực nuôi trồng, khai thác, chế biến thuỷ sản và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, du lịch biển.

Quy hoạch, quản lý quy hoạch và phát triển đô thị theo hướng từng bước chủ động hội nhập quốc tế, là thành viên chính thức của tổ chức CITYNET (Hiệp hội đô thị châu Á, Thái Bình Dương), tranh thủ các nhà tư vấn và các nguồn vốn từ WB (ngân hàng thế giới), ADB (ngân hàng Châu Á), tập đoàn SAMAN (Hàn Quốc), Công ty tư vấn Nikken Seikkei (Nhật Bản), áp dụng bộ chỉ số quản lý đô thị toàn cầu vào công tác thiết kế quy hoạch và quản lý phát triển đô thị.

 Chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý đô thị có chuyển biến tích cực. Chỉnh trang và phát triển đô thị cơ bản bám sát quy hoạch. Công tác quản lý và phát triển đô thị được chủ động phân cấp theo hướng tăng thẩm quyền, rõ ràng, rành mạch và mở rộng trong nhiều lĩnh vực cho chính quyền cơ sở.  

Tổng lượng kinh tế Hải Phòng chiếm 12,3% GDP của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ; thu ngân sách đứng thứ tư cả nước, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, công nghiệp, xây dựng và dịch vụ chiếm trên 90%; lượng hàng hoá qua cảng tăng nhanh, vượt xa dự báo.

Qua 10 năm thực hiện Nghị quyết 06-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố (khóa 12) về phát triển và quản lý đô thị thành phố Hải Phòng, nhận thức về quản lý và phát triển đô thị, đặc biệt về kinh tế đô thị trong xu thế toàn cầu hoá được nâng lên. Yêu cầu xây dựng đô thị bảo đảm là đô thị có sức sống, đô thị có sức cạnh tranh và đô thị có giá trị về kiến trúc, văn hoá, lịch sử có bản sắc được đặt ra ngày càng cấp bách.

1.2. Những hạn chế, yếu kém

(1) Công tác thiết kế quy hoạch và quản lý đô thị thiếu tính đồng bộ và chưa có tầm chiến lược. Quy hoạch không gian biển chưa được quan tâm đúng mức, lúng túng trong việc xử lý mối quan hệ giữa quy hoạch không gian biển, quy hoạch vùng bờ và quy hoạch trên đất liền. Nội dung quy hoạch luôn phải điều chỉnh. Việc xử lý quan hệ giữa quy hoạch các khu bảo tồn và khu vực phát triển lúng túng, lãng phí trong việc quyết định chủ trương đầu tư. Quy hoạch phát triển kinh tế đô thị thiếu tính chiến lược, trực tiếp là quy hoạch ngành nghề đô thị thiếu tính liên kết vùng tác động trực tiếp đến cơ cấu và cấu trúc kinh tế đô thị thành phố.

Kiến trúc đô thị Hải Phòng thiếu tính đặc trưng, chất lượng kết cấu hạ tầng đô thị như: cấp, thoát nước, giao thông đô thị, hạ tầng thông tin... quá tải, thiếu đồng bộ, tỷ lệ cây xanh, khoảng xanh đô thị chưa bảo đảm tiêu chuẩn của đô thị loại 1. Dịch vụ đô thị như cấp nước, thoát nước, cung cấp năng lượng, thông tin, viễn thông, quản lý và  xử lý chất thải hạn chế.

Hiệu lực, hiệu quả công tác quy hoạch đô thị và quản lý đô thị còn nhiều hạn chế, đã xảy ra một số vụ việc vi phạm pháp luật trong quản lý đô thị phải xử lý bằng pháp luật để lại hậu quả nặng nề.

Tình trạng xây chen, cải tạo sửa chữa phá vỡ kiến trúc cảnh quan chậm được khắc phục. Nhiều công trình xây dựng không theo quy hoạch hoặc không giấy phép, xây dựng sai phép khá phổ biến nhưng chậm xử lý hoặc xử lý thiếu kiên quyết, còn biểu hiện đùn đẩy, né tránh ở một số địa phương, đơn vị.

Đầu tư các khu đô thị tràn lan, sử dụng đất thiếu hiệu quả, thiếu ngành nghề và thiếu các dịch vụ an sinh xã hội, các công trình văn hóa, giáo dục, y tế đi kèm; không bảo đảm tỷ lệ các khoảng xanh, cây xanh theo tiêu chuẩn đô thị sinh thái, đô thị kinh tế.

(2) Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật lạc hậu, thiếu độc lập, chưa đáp ứng yêu cầu sử dụng và hội nhập quốc tế.

Mạng lưới giao thông chưa liên kết giữa các loại hình giao thông, giữa đường bộ với đường biển và giữa các vùng, không phát huy khả năng vận tải đa phương thức. Hạ tầng kỹ thuật lạc hậu, năng lực vận tải thuỷ và chất lượng giao thông nông thôn thấp, công tác quản lý giao thông chưa được coi trọng đúng mức.

- Hệ thống đường sắt hạn chế về kỹ thuật, tốc độ chạy tàu thấp, kém an toàn.

- Cảng biển, quy mô công nghệ kỹ thuật thấp không đáp ứng yêu cầu khi nhu cầu vận tải tăng nhanh, chưa thực hiện được chức năng cảng trung chuyển quốc tế hiện đại, cảng quốc tế. Quy hoạch bến bãi bất cập, không gian biển thiếu hợp lý, quản lý khai thác cảng biển thiếu tính chuyên nghiệp.

- Hệ thống logistics yếu, phí dịch vụ qua cảng cao, thời gian thông quan hàng hoá kéo dài.

- Các công trình thuỷ lợi thiếu đồng bộ, hiệu quả thấp, nhiều công trình được xây dựng lâu, ít được duy tu bảo dưỡng đang bị xuống cấp nghiêm trọng.

- Hạ tầng các khu công nghiệp thiếu đồng bộ, thiếu các công trình hạ tầng xã hội thiết yếu, chưa đầu tư các công trình xử lý chất thải và ứng dụng công nghệ 3R (giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng).

- Hạ tầng thông tin, truyền thông phát triển nhanh nhưng thiếu bền vững. Mức độ tin học hoá trong các ngành, lĩnh vực thấp, công nghệ thông tin chưa là một bộ phận cấu thành của từng sản phẩm. Quy mô công nghiệp, công nghệ thông tin nhỏ bé, năng lực hoạt động, năng lực cạnh tranh yếu. Công nghệ phần mềm manh mún, năng lực nghiên cứu và phát triển chưa cao, nguồn nhân lực thiếu và yếu về số lượng, kỹ năng chuyên sâu, trình độ ngoại ngữ.

- Tỷ lệ nội địa hoá và hàm lượng giá trị gia tăng trong các sản phẩm công nghiệp thấp.     

(3) Hạ tầng đô thị thiếu đồng bộ, kém chất lượng và quá tải.

- Giao thông đô thị chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, tỷ lệ đất dành cho giao thông thấp. Mạng lưới giao thông chính, đường hướng tâm, các tuyến vào cảng, đường ngầm, đường trên cao thiếu hoàn thiện.

- Thiếu hệ thống đường vành đai liên kết vùng và hệ thống giao thông công cộng liên vùng, hệ thống giao thông kết nối giữa khu đô thị trung tâm với các thị trấn, thị tứ. Tổ chức vận tải chưa hợp lý; việc tin học hoá, tổ chức vận tải đa phương thức chưa được áp dụng.  

- Chất lượng cấp điện đô thị kém, thiếu ổn định, tỷ lệ ngầm hóa thấp.

- Hệ thống thoát nước hạn chế, lạc hậu; tình trạng ngập úng đang là vấn đề lớn.

(4) Hạ tầng xã hội như trường học, bệnh viện, các công trình văn hóa, thể thao... thiếu đồng bộ, chất lượng thấp, hiệu quả chưa cao.

1.3. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém

Về nguyên nhân khách quan:

Tốc độ phát triển đô thị nhanh chóng là yêu cầu khách quan, tác động của xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, thành phố là nơi tập trung các dòng đầu tư, dòng nhập cư đặc biệt với những đô thị ven biển, cửa chính ra biển của vùng kinh tế trọng điểm.

Kiến thức và trình độ quản lý đô thị chưa theo kịp yêu cầu quản lý đô thị hiện đại; thiếu đội ngũ cán bộ quản lý, các chuyên gia trong lĩnh vực thiết kế và quản lý đô thị; nhu cầu về nguồn lực đầu tư lớn, các nguồn lực chưa đáp ứng được yêu cầu xây dựng và quản lý đô thị văn minh, hiện đại.

Về nguyên nhân chủ quan:

Thiếu các cơ chế chính sách liên quan đến công tác quản lý và phát triển đô thị, nhất là các cơ chế chính sách thu hút các nguồn lực cho đầu tư phát triển mang tính đột phá. 

Nhận thức chung về kiến thức quản lý và phát triển đô thị trên các nội dung: quy hoạch đô thị, thiết kế đô thị, kinh tế đô thị và yêu cầu phát triển ngành nghề đô thị trong bối cảnh toàn cầu hoá và chủ động hội nhập quốc tế. 

Kỷ cương và việc tuân thủ pháp luật về quy hoạch xây dựng và quản lý đô thị của một bộ phận dân cư, ý thức trách nhiệm với cộng đồng còn nhiều hạn chế, việc xử lý vi phạm nhiều trường hợp chưa nghiêm, thiếu tính dứt điểm, còn biểu hiện né tránh đùn đẩy.

Việc triển khai thực hiện Nghị quyết của một số cấp uỷ Đảng, chính quyền chưa nghiêm, có nơi còn buông lỏng. Vi phạm do điều chỉnh quy hoạch vượt thẩm quyền không căn cứ vào các quy chuẩn và tiêu chuẩn quản lý đô thị gây hậu quả nghiêm trọng phải xử lý bằng pháp luật.

Việc phân cấp quản lý quy hoạch đô thị chậm thực hiện, sự phối hợp giữa cấp và ngành hạn chế, nhất là công tác hậu kiểm, việc huy động các nguồn vốn đầu tư nhất là nguồn vốn đầu tư ngoài nguồn ngân sách để đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng đô thị hạn chế.

1.4. Một số bài học kinh nghiệm

Một là, chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, cộng đồng dân cư về công tác quản lý và phát triển đô thị trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, những cơ hội và thách thức, tạo sự đồng thuận, quyết tâm cao trong tổ chức thực hiện.

Hai là, công tác quản lý quy hoạch và phát triển đô thị cần phải có tư duy chiến lược mang tính dài hạn, nhanh chóng tiếp cận và áp dụng bộ tiêu chuẩn quản lý đô thị toàn cầu, chú trọng nâng cao chất lượng quy hoạch tổng thể.

Ba là, trong quản lý quy hoạch và phát triển đô thị cần tăng cường sự phối hợp đa ngành, đa lĩnh vực thay cho quản lý đơn ngành và quản lý từng lĩnh vực riêng rẽ; đồng thời tổ chức phân công, phân cấp rõ ràng, rành mạch quy định rõ chức năng quyền hạn, trách nhiệm cho từng tập thể, cá nhân trong quản lý và phát triển đô thị; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc và có chế tài thưởng, phạt nghiêm minh.

Bốn là, huy động, khai thác tối đa các nguồn lực, trong đó nguồn ngân sách tập trung cho công tác lập quy hoạch và thiết kế đô thị, đầu tư các dự án hạ tầng chiến lược và các dịch vụ thiết yếu; đẩy mạnh thu hút các nguồn lực đầu tư ngoài vốn ngân sách nhà nước, vốn đầu tư từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, vốn trong dân và đầu tư bằng các hình thức BT, BOT, BTO, PPP nhằm phát huy các thế mạnh của thành phố phục vụ đầu tư phát triển đô thị.

2. Mục tiêu phát triển và quản lý đô thị thành phố đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050

2.1. Bối cảnh

Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá tốc độ đô thị hoá diễn ra nhanh chóng. Mục tiêu năm 2015 thành phố Hải Phòng trở thành thành phố cảng, công nghiệp và dịch vụ cảng theo hướng văn minh hiện đại, vị trí là cửa chính ra biển của các tỉnh phía Bắc và cả nước, thành phố cảng, trung tâm công nghiệp cửa ngõ quan trọng trong chương trình hợp tác phát triển của hai hành lang và một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc.

Quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế là cơ hội cho các doanh nghiệp thành phố có điều kiện tiếp cận các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ quốc tế, các nguồn tín dụng, công nghệ tiên tiến trên thế giới; những công trình hạ tầng mang tính chiến lược đang được nhà nước tập trung đầu tư, tạo cơ hội phát triển các ngành dịch vụ vận tải đường biển, đường hàng không, đường sắt, Logistics, bảo hiểm, ngân hàng,...mở ra không gian kinh tế lớn của khu vực phía Bắc và cả nước.

Là cửa chính ra biển của khu vực phía Bắc, quá trình toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cùng với quá trình biến đổi khí hậu, nước biển dâng... toàn cầu hoá xuất hiện dòng đầu tư, dòng nhập cư, dòng văn hoá thậm chí cả dòng tội phạm, dòng ô nhiễm tác động mạnh đến sự phát triển của đô thị thành phố trong thời gian tới.

2.2.  Mô hình, cấu trúc đô thị thành phố

- Mô hình thành phố: Là thành phố cảng biển cửa chính ra biển của khu vực phía Bắc, trung tâm dịch vụ, logistics, trung tâm công nghiệp với công nghệ sạch và công nghệ cao, đầu mối kết nối giao thông với Hà Nội, quốc tế và các vùng miền trong nước (có cảng biển và sân bay quốc tế); xây dựng mô hình đô thị sinh thái - đô thị kinh tế, đô thị có sức sống, có giá trị và có sức cạnh tranh, đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững.

- Cấu trúc đô thị: gồm đô thị trung tâm và các đô thị vệ tinh, được hình thành bởi thế đất, thế núi, năm dòng sông chính, dựa vào sông Cấm và sông Lạch Tray làm hai trục kiến trúc chủ đạo, phát triển đô thị theo hướng biển.

2.3. Quan điểm

(1). Phát triển đô thị đồng bộ với xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội và kỹ thuật, bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên hợp lý và có hiệu quả, sử dụng tiết kiệm năng lượng gắn với bảo vệ môi trường sinh thái. Cải tạo khu vực đô thị cũ với phát triển các khu đô thị mới, phát huy bản sắc kiến trúc đô thị Hải Phòng.

(2). Phát triển và quản lý đô thị phải phù hợp với các quy hoạch phát triển vùng, quy hoạch chung và quy hoạch phát triển không gian, quy hoạch môi trường thành phố đến năm 2020 và 2050.

(3). Phát triển và quản lý đô thị bảo đảm phù hợp với tiềm năng, vị thế của thành phố cảng biển, đô thị trung tâm cấp quốc gia; khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, bảo đảm hài hoà giữa bảo tồn và phát triển, phát triển và bảo tồn; sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản; phát triển cân đối giữa phát triển đô thị và các vùng nông thôn.

(4). Phát triển đô thị bảo đảm yêu cầu kinh tế đô thị phát triển bền vững, từng bước và liên tục sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội; kết cấu ngành nghề đô thị bảo đảm năng suất, chất lượng tổng hợp. Phát triển ngành nghề đô thị, quan tâm các ngành sử dụng công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao thay thế cho công nghệ thấp, lạc hậu.

2.4. Mục tiêu

Xây dựng và phát triển đô thị Hải Phòng là đô thị cảng cửa ngõ quốc tế, văn minh, hiện đại, là đô thị trung tâm cấp quốc gia, thành phố sinh thái - thành phố kinh tế, bảo đảm phát triển bền vững, có bản sắc là thành phố cảng nằm bên bờ biển, có núi, nhiều sông, kiến trúc hài hoà với cảnh quan thiên nhiên, đến năm 2025 cơ bản đạt các tiêu chí đô thị đặc biệt cấp quốc gia.

Mục tiêu cụ thể từng giai đoạn đến năm 2025

- Đến năm 2015: tập trung phát triển cơ sở hạ tầng quan trọng, công nghiệp, dịch vụ, cảng biển và hoàn thiện các tiêu chí của đô thị loại 1, trung tâm cấp quốc gia để Hải Phòng cơ bản trở thành thành phố công nghiệp và dịch vụ cảng theo hướng văn minh hiện đại.

- Giai đoạn 2015-2025: dịch chuyển trung tâm hành chính - chính trị thành phố về phía Bắc sông Cấm theo quy hoạch; hoàn thành các công trình hạ tầng kỹ thuật đầu mối kết nối quốc tế: Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng; Cảng hàng không quốc tế Hải Phòng tại huyện Tiên Lãng. Xây dựng hệ thống các khu đô thị, công nghiệp, trung tâm tài chính, thương mại, dịch vụ, khoa học - công nghệ... trở thành trung tâm kinh tế - khoa học - kỹ thuật tổng hợp của vùng duyên hải Bắc Bộ, trung tâm phát triển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước; phấn đấu đạt các tiêu chí của đô thị đặc biệt.

2.5 Chỉ tiêu phát triển kết cấu hạ tầng.

- Chỉ tiêu về hệ thống giao thông:

        + Tỷ lệ đất giao thông đô thị so với đất xây dựng trong khu vực xây dựng và phát triển các khu đô thị mới: phấn đấu đạt từ 16% đến 26%.

+ Tỷ lệ phục vụ vận tải hành khách công cộng: đến năm 2015 phấn đấu đạt 15%; đến năm 2025 đạt theo tiêu chuẩn đô thị đặc biệt là: 30%.

 - Chỉ tiêu về nhà ở:

Diện tích sàn nhà ở bình quân cho khu vực nội thành:  đến năm 2015 duy trì # đạt 21,3 m2 sàn/người; đến năm 2025 đạt theo tiêu chuẩn đô thị đặc biệt là: 23 m2 sàn/người

- Chỉ tiêu về công trình công cộng đô thị:

  Đất xây dựng công trình công cộng khu ở:  đến năm 2015 đạt # 2,0m2/người; đến năm 2025 đạt theo tiêu chuẩn đô thị đặc biệt là: 3,0m2/ người.

- Chỉ tiêu về hệ thống cấp nước:

 Tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt khu vực nội thị: đến năm 2015  duy trì # 130 lít/người/ngày đêm; đến năm 2025 phấn đấu đạt theo tiêu chuẩn đô thị đặc biệt là: # 150 lít/người/ngày đêm.

- Các chỉ tiêu về hệ thống thoát nước:

+ Tỷ lệ nước thải sinh hoạt được xử lý: đến năm 2015 phấn đấu đạt 60%; đến năm 2025 đạt theo tiêu chuẩn đô thị đặc biệt là: 80%.

+ Tỷ lệ các cơ sơ sản xuất mới xây dựng có trạm xử lý nước thải: Đến năm 2015 phấn đấu đạt 80%; đến năm 2025 đạt theo tiêu chuẩn đô thị đặc biệt là: 100%

- Chỉ tiêu về cây xanh, thu gom xử lý chất thải:

 + Đất cây xanh đô thị: đến năm 2015 đạt 10 m2/người; đến năm 2025 đạt theo tiêu chuẩn đô thị đặc biệt là: 15m2/người.

+ Tỷ lệ chất thải rắn khu vực nội thị được thu gom: đến năm 2015 đạt 95%; đến năm 2025 đạt theo tiêu chuẩn đô thị đặc biệt là: 100%

- Chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới:  đến năm 2015 có 30% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới; đến năm 2025 có 100% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới, giữ vững kết quả 100% số xã đạt tiêu chuẩn quốc gia về y tế cơ sở.

3. Định hướng phát triển hạ tầng và quản lý đô thị

3.1 Phát triển hợp lý hệ thống giao thông đô thị và vận tải công cộng, dành quỹ đất cho giao thông đô thị  16% -26%.

- Hệ thống giao thông đô thị: ưu tiên mở rộng cải tạo nâng cấp các đường hướng tâm trục phía Bắc, trục Đông Nam - Tây Bắc, trục phía Nam và các đường vành đai 1, 2, 3 bảo đảm kết nối hợp lý đô thị trung tâm với các khu vực khác trong vùng.

- Phát triển vận tải hành khách công cộng bằng các hình thức hiện đại để giảm ách tắc giao thông, sử dụng nhiều hình thức giao thông công cộng như: đường bộ, đường sắt đô thị, đường ngầm, đường thuỷ... bảo đảm năm 2025 đạt tỷ lệ vận chuyển hành khách công cộng 30 - 35%.

 - Quy hoạch và phát triển các bãi, điểm đỗ xe công cộng, ưu tiên phát triển các công trình ngầm tại khu vực đô thị cũ. Xây dựng mới bốn bến xe liên tỉnh tại các hướng Bắc, Nam, Đông, Tây. Cải tạo và nâng cấp các nút giao thông, xây dựng các nút giao thông khác mức, hệ thống cầu vượt, hầm qua đường cho các loại giao thông và người đi bộ bảo đảm chống ách tắc giao thông. Phát triển đồng bộ các hình thức giao thông đô thị như đường bộ, đường sắt đô thị, các công trình giao thông trên cao, đường ngầm...

- Tổ chức quản lý hệ thống giao thông vận tải hợp lý, khoa học, từng bước hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin và các trang thiết bị hiện đại, từng bước xử lý tình trạng ách tắc giao thông và tai nạn giao thông.

3.2 Phát triển hệ thống hạ tầng giao thông đối ngoại chiến lược, bảo đảm kết nối đồng bộ giữa các phương thức giao thông.

- Đường bộ: mở rộng, nâng cấp và xây dựng các tuyến giao thông chính kết nối trung tâm thành phố đến các khu vực xung quanh như thành phố Hà Nội, tỉnh Thái Bình, Quảng Ninh như: đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, đường cao tốc ven biển Duyên hải Bắc Bộ, nâng cấp cải tạo quốc lộ 10, quốc lộ 37, tỉnh lộ 352...

- Đường sắt: xây dựng mới tuyến đường sắt cao tốc Hà Nội - Hải Phòng đến Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng, tuyến đường sắt vùng Duyên hải Bắc Bộ, cải tạo nâng cấp tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng hiện có.

- Đường hàng không: xây dựng Cảng Hàng không quốc tế Hải Phòng, cải tạo nâng cấp sân bay quốc tế Cát Bi. 

- Đường biển: xây dựng Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng tại Lạch huyện, quân cảng Nam Đồ Sơn; cải tạo và nâng cao năng lực hệ thống cảng Chùa Vẽ, cảng Đình Vũ; xây dựng bến tàu khách quốc tế.

- Đường sông: xây dựng hệ thống giao thông đường thuỷ nội địa bảo đảm kết nối với các tỉnh khu vực phía Bắc.

3.3 Phát triển hạ tầng năng lượng:

Phát triển hạ tầng năng lượng đi trước một bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Khai thác lợi thế thành phố ven biển để tăng cường sử dụng các nguồn năng lượng sạch, ít ô nhiễm như: năng lượng gió, năng lượng nước...

- Hệ thống cấp điện bảo đảm cung cấp điện phục vụ công nghiệp, dân dụng và chiếu sáng. Mạng lưới điện trung thế, hạ thế hiện có từng bước được ngầm hóa để bảo đảm an toàn và mỹ quan đô thị.

3.3. Vấn đề vệ sinh môi trường.

- Cấp nước: Cung cấp nước sạch ổn định, bảo đảm chất lượng cho nhu cầu sử dụng của đô thị, đáp ứng 100% nhu cầu dùng nước sạch của dân đô thị với chỉ tiêu dùng nước 150 l/người - ngày đêm, nước dùng cho công nghiệp tập trung 45 m3/ha - ngày đêm. Lập hành lang bảo vệ nguồn nước cấp nước thô cho thành phố lấy từ hệ thống các sông: sông Rế, sông Đa Độ và sông Giá.   

- Thoát nước và xử lý nước thải: Nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp phải được xử lý đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi xả ra nguồn tiếp nhận. Tăng cường quản lý kiểm tra giám sát các nguồn nước thải từ các khu công nghiệp, xử lý hệ thống kiểm soát chất lượng nước trong hệ thống công trình thuỷ lợi.

- Thu gom và xử lý chất thải: Quy hoạch và hình thành hệ thống đồng bộ quản lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố, các khu cụm công nghiệp, khu kinh tế,  theo đó chất thải rắn được phân loại tại nguồn, thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý triệt để, hạn chế tối đa lượng chất thải chôn lấp nhằm tiết kiệm tài nguyên đất đai và hạn chế gây ô nhiễm môi trường. Quản lý và xử lý chất thải nguy hại theo các phương thức phù hợp. Tiến hành đầu tư xây dựng các khu xử lý chất thải rắn tập trung của thành phố. Tăng cường mạnh mẽ năng lực kiểm soát ô nhiễm môi trường và xử lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố.

3.4 Phát triển hệ thống thuỷ lợi và ứng phó biến đổi khí hậu.

- Tập trung đầu tư củng cố nâng cấp 416 km đê, trong đó có 216 tuyến đê biển, tạo thành các tuyến đê khép kín kết hợp với làm đường giao thông vành đai ven biển nhằm chủ động phòng chống lụt bão, nước biển dâng, ứng phó biến đổi khí hậu, nâng cao khả năng tiêu thoát ra các sông chính, tăng diện tích tiêu  thoát bằng động lực, bảo đảm tiêu thoát nước.

-  Khai thác tiềm năng các công trình thuỷ lợi phục vụ du lịch, cấp nước sinh hoạt, cấp nước công nghiệp, tạo nguồn thu duy tu bảo dưỡng và vận hành. Tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát các nguồn nước thải từ các khu công nghiệp, xây dựng hệ thống kiểm soát chất lượng nước trong hệ thống công trình thủy lợi.

- Nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp công nghệ tiến tiến về cấp nước, tiêu thoát nước, quy trình quản lý, vận hành hệ thống công trình thuỷ lợi nhằm hạn chế tác động biển đổi khí hậu, nước biển dâng.

3.5 Phát triển hạ tầng khu, cụm công nghiệp

Kết hợp phát triển các khu, cụm công nghiệp tổng hợp với các khu, cụm công nghiệp chuyên ngành, trong đó, ưu tiên phát triển các khu công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sạch. Phát triển khu, cụm công nghiệp đồng bộ với các cơ sở dịch vụ công nghiệp, dịch vụ nhà ở và tiện ích khác cho người lao động, các công trình xử lý chất thải và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ 3R (giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng).

Phát triển kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp với tổng diện tích đất công nghiệp, kho tàng đến năm 2025 sẽ đạt 16.329 ha được phân thành các khu và cụm công nghiệp: xây dựng hoàn thiện 16 khu công nghiệp đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt có tổng diện tích 9.504 ha; phát triển các cụm công nghiệp quy mô vừa và nhỏ do thành phố quản lý có quy mô khoảng 6.825 ha; từng bước phát triển các khu cảng, công nghiệp và đô thị ven sông Văn Úc.

3.6 Phát triển hạ tầng thương mại

Tập trung quy hoạch và đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại: mạng lưới phát triển chợ, chợ đầu mối, mạng lưới siêu thị, trung tâm thương mại ... bảo đảm đồng bộ phát triển đô thị, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, lưu thông hàng hóa, dịch vụ theo hướng văn minh, hiện đại. Đầu tư xây dựng các khu trung tâm thương mại cấp vùng: tại đô thị trung tâm hai bờ Bắc và Nam sông Cấm, Khu đô thị mới Ngã Năm – Sân bay Cát Bi...

3.7 Phát triển hạ tầng thông tin

Ứng dụng công nghệ hiện đại, tiên tiến trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin. Các công nghệ được lựa chọn phải mang tính đón đầu, tương thích và phù hợp xu hướng hội tụ công nghệ. Đến năm 2025 xa lộ thông tin toàn thành phố nối tất cả các huyện, các xã bằng cáp quang và phương thức truyền dẫn băng thông rộng khác: 100% số thuê bao có khả năng truy cập viễn thông và internet băng rộng.

3.8 Phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng xã hội với phát triển đô thị

Quy hoạch và đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng xã hội theo từng cấp: thành phố, quận, huyện, phường, xã, bảo đảm yêu cầu phát triển đô thị thành phố.

- Hạ tầng giáo dục: Hình thành các trung tâm giáo dục đào tạo cấp vùng (đại học, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề...) tại các quận Kiến An, huyện Thuỷ Nguyên, Kiến Thụy. Tăng cường đầu tư xây dựng, nâng cấp các cơ sở trường học bảo đảm yêu cầu phát triển xã hội.

- Hạ tầng y tế: Xây dựng Bệnh viện đa khoa khu vực duyên hải Bắc Bộ, Bệnh viện Việt Tiệp 2 (tại An Đồng - huyện An Dương). Các trung tâm y tế và nghỉ dưỡng chữa bệnh đặt tại phía Bắc thành phố thuộc huyện Thuỷ Nguyên, phía Nam thành phố thuộc quận Đồ Sơn. Các khu nghỉ dưỡng: sông Giá, Núi Đối, Cát Bà, Núi Voi, Đồ Sơn.

- Hạ tầng văn hoá, thể thao du lịch: tăng cường đầu tư nâng cấp và phát triển đồng bộ các công trình văn hoá, thể thao du lịch và một số công trình văn hóa lớn của thành phố. Quy hoạch và xây dựng hệ thống nhà hát, nhà văn hóa, câu lạc bộ, hệ thống tượng đài: Tượng đài Bác Hồ, tượng đài chiến thắng Cát Bi..... Thực hiện tốt công tác bảo tồn, phát huy giá trị các công trình di sản văn hóa, nhất là các di tích lịch sử cách mạng.

Tăng cường đầu tư, nâng cấp các công trình thể dục thể thao như: Khu liên hợp thể dục thể thao Olympic tại quận Dương Kinh, trung tâm thể dục thể thao Lạch Tray và các trung tâm thể thao tại các quận, các khu đô thị mới.

Phát triển khu du lịch Cát Bà và Đồ Sơn thành trung tâm du lịch quốc tế. Đầu tư xây dựng một số cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch có chất lượng cao, đồng bộ, đặc biệt đầu tư vào các khu du lịch nghỉ dưỡng biển, tạo ra những sản phẩm đặc thù của Hải Phòng để tăng sức cạnh tranh.

 

4. Các hướng đột phá phát triển đô thị đến năm 2015

4.1. Phát triển về hướng Đông Nam để tạo bước đột phá về phát triển cảng biển, dịch vụ cảng, công nghiệp, du lịch, tăng thu ngân sách

Hoàn thành đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, đường và cầu Tân Vũ - Lạch Huyện trước năm 2015; hoàn thành xây dựng hai bến khởi động của Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng; triển khai đầu tư cơ sở hạ tầng và thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp, dịch vụ lớn: Đình Vũ, Nam Đình Vũ, Tràng Cát, khu phi thuế quan...

4.2. Phát triển về hướng Bắc gắn với phát triển hệ thống đô thị hai bờ sông Cấm để tạo đột phá về diện mạo trung tâm thành phố, trung tâm đô thị mới mang bản sắc đặc trưng của đô thị Hải Phòng, góp phần hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị hiện đại, đồng bộ 

- Triển khai thủ tục đầu tư xây dựng khu Trung tâm hành chính, chính trị thành phố tại khu vực Bắc sông Cấm; hoàn thành cơ bản xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật như: san nền, giao thông, cây xanh, cấp điện, nước... hoàn thành xây dựng cầu hoặc đường hầm nối từ trung tâm thành phố sang khu vực Bắc sông Cấm.

- Xây dựng Khu công nghiệp - đô thị VSIP làm tiền đề hình thành quận mới tại Bắc sông Cấm; khu công viên cây xanh - thể dục thể thao, vui chơi giải trí, văn hóa, du lịch, dịch vụ thương mại tại đảo Vũ Yên.

- Tiếp tục di chuyển một số cơ sở công nghiệp, một phần cảng Hải Phòng để xây dựng khu đô thị Nam sông Cấm.

4.3. Phát triển đô thị sinh thái hai bên sông Lạch Tray và hướng Đồ Sơn tạo bước đột phá về cảnh quan của thành phố sinh thái

Hoàn thành dự án khu đô thị Xingapo, khu đô thị Nguyễn Văn Linh - cầu Rào 2, dự án phát triển giao thông đô thị Hải Phòng (đường WB), dự án xây dựng cầu Niệm 2; hoàn thành quy hoạch đô thị hai bên sông Lạch Tray và đầu tư xây dựng các khu đô thị ven sông Lạch Tray.

 

5. Nhiệm vụ, giải pháp

5.1 Nâng cao nhận thức về quản lý và phát triển đô thị trong bối cảnh toàn cầu hoá và chủ động hội nhập quốc tế

Tổ chức tuyên truyền, quán triệt thực hiện Nghị quyết tới toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân thành phố về mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ phát triển và quản lý đô thị Hải Phòng trong thời kỳ mới; các cơ chế chính sách khuyến khích thực hiện xã hội hoá xây dựng phát triển đô thị; chính sách pháp luật của Nhà nước trong xây dựng và quản lý đô thị, nâng cao ý thức trách nhiệm cộng đồng về trật tự, kỷ cương trong xây dựng, phát triển và quản lý đô thị. Thường xuyên phát động các phong trào “xây dựng nếp sống văn minh đô thị” bảo đảm sâu rộng, hiệu quả.

5.2 Nâng cao chất lượng quy hoạch và phát triển kết cấu hạ tầng

- Rà soát điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của các ngành, vùng, các quận, huyện, bảo đảm tính đồng bộ liên ngành trên phạm vi toàn thành phố, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Căn cứ quy hoạch, lựa chọn các công trình trọng điểm có sức lan toả tạo sự đột phá lớn để tập trung các nguồn lực đầu tư xây dựng. Chủ động triển khai lập quy hoạch vùng bờ, quy hoạch không gian biển, gắn với quy hoạch quốc phòng, an ninh.

- Tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong tổ chức thực hiện quy hoạch, bảo đảm hiệu quả và khả thi. Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy hoạch.

- Thiết kế đô thị áp dụng bộ chỉ số quản lý đô thị, bảo đảm tỷ lệ các khoảng xanh, cây xanh. Đến năm 2015, hoàn thành lập sa bàn đô thị thành phố ổn định.

5.3 Tập trung thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng

- Sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và trái phiếu, thực hiện nghiêm các quy định về đầu tư công, mua sắm công. Các quyết định đầu tư phải cân đối khả năng bố trí vốn trước khi phê duyệt dự án đầu tư; chịu trách nhiệm chất lượng hiệu quả của dự án.

- Thu hút mạnh mẽ các dự án ODA đối với các công trình lớn, các dự án đầu tư hạ tầng giao thông, thuỷ lợi, ứng phó biến đổi khí hậu.

- Thu hút các thành phần kinh tế, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư kết cấu hạ tầng, bảo đảm lợi ích chính đáng và hợp pháp của các nhà đầu tư.

5.4. Đổi mới cơ chế, chính sách giải phóng mặt bằng

- Bảo đảm thực hiện nghiêm túc cơ chế, chính sách giải phóng mặt bằng; quyền lợi, lợi ích của người có đất bị thu hồi; động viên sự tự nguyện chấp hành và tự nguyện hiến đất cho các dự án phát triển kết cấu hạ tầng.

- Kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi cố tình không chấp hành các quy định của pháp luật về chính sách giải phóng mặt bằng.

5.5. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về quản lý và phát triển đô thị

- Quản lý nghiêm việc thiết kế quy hoạch đô thị và triển khai thực hiện quy hoạch trong phạm vi toàn thành phố và các quận, huyện.

- Rà soát, hoàn thiện các cơ chế, chính sách tạo môi trường thuận lợi thu hút mạnh mẽ và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư; thực hiện nghiêm các quy chuẩn kỹ thuật quản lý, đánh giá, giám sát bảo đảm chất lượng công trình.

- Đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm thông thoáng, thuận lợi, thực hiện 3 giảm (giảm chi phí, giảm thời gian và giảm giấy tờ).

- Ứng dụng công nghệ thông tin và phương pháp quản lý hiện đại trong xây dựng, quản lý các công trình hạ tầng với mục tiêu nâng cao chất lượng công trình, sử dụng công trình có hiệu quả.

5.6. Khẩn trương tổ chức phân cấp để phát huy tính chủ động, sáng tạo của cấp cơ sở.

Việc phân cấp phải triệt để, đồng bộ gắn với tăng cường hướng dẫn, giám sát, kiểm tra để bảo đảm quản lý thống nhất. Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định, vượt thẩm quyền.  

 

6. Tổ chức thực hiện

- Giao Ban Cán sự Đảng UBND thành phố thành lập Ban Chỉ đạo thành phố về quản lý và phát triển đô thị Hải Phòng, chỉ đạo thực hiện cụ thể hoá Nghị quyết thành các dự án, chương trình theo từng giai đoạn đến năm 2025; chỉ đạo các cấp, ban, ngành, cơ quan, đơn vị liên quan căn cứ chức năng, nhiệm vụ xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể để thực hiện; định kỳ hằng năm sơ kết, rút kinh nghiệm, bổ khuyết kịp thời việc thực hiện.

- Các cấp uỷ Đảng, Đảng Đoàn, Ban cán sự Đảng căn cứ tình hình và nhiệm vụ của địa phương, đơn vị mình để cụ thể hóa, xác định mục tiêu, nội dung, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện.

Giao Văn phòng Thành uỷ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Nghị quyết; định kỳ hằng năm báo cáo tình hình, kết quả thực hiện và tham mưu đề xuất để Thành uỷ bổ khuyết chỉ đạo kịp thời.

                         

T/M BAN CHẤP HÀNH

          BÍ THƯ

               Nguyễn Văn Thành

 

 

 

Ý kiến của bạn
Họ tên
Email
Tiêu đề
Nội dung