Nghị quyết của BCH Đảng Bộ thành phố về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp năm 2011
Cập nhật lúc 08:34, Thứ Sáu, 03/12/2010 (GMT+7)

Ngày 26 -11-2010, đồng chí Nguyễn Văn Thuận, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy khóa 13, Chủ tịch HĐND thành phố đã ký ban hành Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp năm 2011. Báo Hải Phòng trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết.

I. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM 2010

Thực hiện Nghị quyết số 31-NQ/TU của Thành uỷ về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp năm 2010 trong điều kiện kinh tế khu vực và thế giới có xu hướng phục hồi nhưng tác động của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu vẫn ảnh hưởng đến kinh tế cả nước và thành phố, nhất là trong các lĩnh vực thu hút vốn đầu tư nước ngoài, xuất khẩu, các ngành dịch vụ như du lịch, vận tải biển. Bên cạnh đó, tình hình thiếu điện, khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, dịch bệnh diễn biến phức tạp, giá cả hàng hoá tăng cao đã ảnh hưởng bất lợi đến nhiều lĩnh vực kinh tế- xã hội của thành phố. Ngay từ đầu năm, Đảng bộ thành phố đã tập trung cao sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các giải pháp của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ nhằm bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, không để lạm phát cao và bảo đảm đạt mục tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế; thực hiện chủ đề hành động năm 2010 về “tăng cường bảo vệ môi trường và bảo đảm an sinh xã hội”.

 Kinh tế-xã hội của thành phố giữ được ổn định và phát triển khá, hầu hết các chỉ tiêu kinh tế - xã hội đạt kế hoạch đề ra. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng khá cao so với cùng kỳ (10,96%), gấp khoảng 1,6 lần so với tốc độ tăng của cả nước; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tỷ trọng ngành dịch vụ ngày càng tăng (53,02% so với 52,55% năm 2009). Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt tốc độ tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước; đầu tư phát triển được đẩy mạnh, huy động và giải ngân các nguồn vốn đầu tư phát triển có tiến bộ; doanh thu xuất khẩu, thương mại nội địa, dịch vụ cảng biển đạt tốc độ tăng trưởng khá cao. Công tác phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại được thực hiện có kết quả.

Các dự án trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ, một số công trình có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của thành phố được khởi công, khánh thành cơ bản theo tiến độ đề ra. Công tác quản lý, phát triển đô thị và các hoạt động công ích đô thị trên một số mặt tiếp tục có chuyển biến tích cực.

Công tác cải cách hành chính tiếp tục được quan tâm đẩy mạnh theo chương trình, kế hoạch. Công tác đối ngoại có điểm mới, đạt kết quả quan trọng, góp phần tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế thành phố.

Chương trình hành động thực hiện chủ đề năm về “tăng cường bảo vệ môi trường và bảo đảm an sinh xã hội” được tập trung thực hiện, triển khai khá toàn diện, cụ thể, nhận được sự đồng thuận cao của xã hội và tạo động lực quan trọng cho kinh tế-xã hội thành phố phát triển theo hướng bền vững. Các lĩnh vực văn hóa-xã hội tiếp tục có những chuyển biến tiến bộ.

Các mặt công tác xây dựng Đảng tiếp tục được đổi mới, đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả rõ nét; đã tập trung cao tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp và chuẩn bị chu đáo cho sự thành công của Đại hội 14 Đảng bộ thành phố. Công tác vận động nhân dân tiếp tục được tăng cường và đạt hiệu quả thiết thực. Việc chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát; phát huy dân chủ ở cơ sở được tăng cường và có chuyển biến tích cực.

Tuy nhiên, thực hiện nhiệm vụ năm 2010 còn một số hạn chế, yếu kém: kinh tế của thành phố tuy phát triển khá nhưng chưa đạt được mức tăng trưởng những năm trước suy thoái (GDP năm 2007 tăng 12,74%, năm 2008 tăng 13,02%). Tốc độ tăng trưởng của sản xuất công nghiệp phục hồi chậm, không đạt kế hoạch và thấp hơn so với bình quân chung của cả nước; ngành đóng tàu vẫn gặp khó khăn về vốn và thị trường. Du lịch chưa khắc phục được những yếu kém, hạn chế, lượng khách du lịch tăng thấp, nhất là khách du lịch quốc tế. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cải thiện chưa đáng kể, chủ yếu là dự án quy mô nhỏ. Một số dự án có khả năng đóng góp giá trị sản xuất lớn nhưng chậm đưa vào khai thác ổn định (Nhà máy Nhiệt điện), hoặc hiệu suất khai thác thấp (các nhà máy DAP, sản xuất phôi thép). Các dự án phát triển hạ tầng khu công nghiệp triển khai chậm, nhất là các công trình xử lý nước thải tập trung. Chậm có giải pháp hữu hiệu khắc phục sự quá tải, xuống cấp của hạ tầng giao thông kết nối hệ thống cảng.

Trong phòng, chống dịch bệnh, bão lụt còn bộc lộ sự chủ quan, thiếu chủ động ở một số đơn vị, đặc biệt đã xảy ra sự cố cầu Bính do bão số 1 không thể sớm khắc phục được. Tiến độ một số dự án, công trình trọng điểm còn chậm. Trật tự đường hè còn hạn chế.

Cải cách hành chính tuy đạt kết quả tích cực, song chưa đồng đều giữa các địa phương, đơn vị; thủ tục hành chính còn rườm rà, chồng chéo; vẫn tồn tại tình trạng phiền hà, sách nhiễu của một bộ phận cán bộ, công chức trong thực thi công vụ, song còn thiếu các biện pháp xử lý kiên quyết. Việc thực hiện chủ đề năm 2010 ở một số cấp, ngành, đơn vị còn hình thức. Môi trường sinh thái còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ ô nhiễm, một số vụ việc ô nhiễm môi trường chưa được xử lý dứt điểm, gây bức xúc trong nhân dân.

Thực hiện chủ trương chuyển đổi mô hình các trường phổ thông ngoài công lập và Nghị quyết của Ban Thường vụ Thành uỷ về phát triển giáo dục mầm non triển khai chưa đạt yêu cầu. Chất lượng giáo dục đại trà còn hạn chế; tình trạng học thêm, dạy thêm còn thiếu sự quản lý chặt chẽ. Nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang, lễ hội chưa được quan tâm. Công tác phòng bệnh, khám, chữa bệnh ban đầu gặp nhiều khó khăn. Kết quả công tác dân số thiếu bền vững, tình trạng mất cân bằng giới tính ở trẻ sơ sinh chưa có giải pháp khắc phục. Số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện còn thấp so với yêu cầu; số nợ đọng bảo hiểm xã hội ở một số doanh nghiệp còn nhiều. Chất lượng đào tạo nghề còn thấp chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tình hình tai nạn giao thông, tội phạm và tệ nạn xã hội- nhất là tệ nạn ma tuý, mại dâm còn nhiều diễn biến phức tạp. Tình hình an ninh nông thôn, đô thị, an ninh tôn giáo còn tiềm ẩn các nhân tố gây mất ổn định. Công tác tư tưởng có lúc, có nơi, có việc chưa thật sự nhạy bén, kịp thời. Công tác thông tin, tuyên truyền, định hướng dư luận và nắm tình hình chính trị nội bộ ở một số đơn vị còn hạn chế, nhất là việc nắm tình hình chính trị hiện nay. Kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm chưa phản ánh đúng tình hình; xử lý sau khi có kết luận kiểm tra một số vụ việc còn để kéo dài. Việc nắm tình hình quần chúng và các vấn đề liên quan đến công tác dân vận, vận động quần chúng còn chưa thường xuyên, kịp thời...

Công ty CP Sơn Hải Phòng đầu tư dây chuyền sản xuất mới, hiện đại tại Khu công nghiệp Sài Gòn-Hải Phòng (huyện An Dương).
II. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP NĂM 2011

1. DỰ BÁO TÌNH HÌNH

Năm 2011 là năm diễn ra Đại hội 11 của Đảng, tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, HĐND cấp thành phố và cấp xã; là năm đầu triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội 11 của Đảng, Nghị quyết Đại hội 14 Đảng bộ thành phố nên có ý nghĩa rất quan trọng, tạo tiền đề cho những năm tiếp theo để thực hiện mục tiêu đến năm 2015 Hải Phòng trở thành thành phố công nghiệp và dịch vụ cảng theo hướng văn minh, hiện đại. Dự báo cho thấy, kinh tế thế giới tiếp tục đà phục hồi, các hoạt động thương mại và đầu tư trên thị trường thế giới từng bước được khởi sắc. Kinh tế nước ta hồi phục khá nhanh trên các ngành, lĩnh vực; chính trị xã hội ổn định, môi trường kinh doanh tiếp tục được cải thiện, Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài.   

Tuy nhiên, theo dự báo kinh tế thế giới và trong nước tiếp tục có những biến động phức tạp. Kinh tế trong nước còn tiềm ẩn những yếu tố gây lạm phát cao và bất ổn định kinh tế vĩ mô; thiên tai, dịch bệnh và biến đổi khí hậu có thể tác động xấu đến sự phát triển, nhất là sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân. Kinh tế thành phố năm 2010 chưa lấy lại đà tăng trưởng trước suy thoái, những hạn chế trong phát triển cơ sở hạ tầng, cải cách hành chính, nguồn nhân lực, môi trường tiếp tục ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, đòi hỏi tập trung cao sự lãnh đạo, chỉ đạo, nguồn lực cho việc vừa phục hồi, phát triển kinh tế, vừa bảo đảm thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, giữ gìn ổn định mọi mặt, bảo đảm sự phát triển bền vững của thành phố. 

2. MỤC TIÊU

Căn cứ yêu cầu xây dựng và phát triển thành phố, Thành uỷ xác định mục tiêu chủ yếu trong năm 2011:

- Bảo đảm kinh tế thành phố phát triển ổn định, gắn với đổi mới cách thức tăng trưởng và tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đẩy nhanh hơn nữa sự phục hồi kinh tế thành phố, lấy lại đà tăng trưởng gắn với chủ động phòng ngừa lạm phát cao; bảo đảm an sinh xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Thực hiện tốt việc bảo vệ môi trường sinh thái.

- Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng toàn diện và đồng bộ. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về môi truờng đầu tư kinh doanh. Tổ chức thành công bầu cử đại biểu HĐND cấp xã, thành phố và đại biểu Quốc hội khóa 13 bảo đảm đúng luật.

- Đẩy mạnh chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị-trật tự an toàn xã hội, bảo đảm quốc phòng-an ninh.

- Tập trung cao công tác tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết Đại hội; xây dựng chương trình hành động thực hiện và chương trình công tác toàn khóa của Thành uỷ và các cấp uỷ, bảo đảm đưa Nghị quyết Đại hội nhanh chóng đi vào cuộc sống. Tiếp tục xây dựng và củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh.

Để thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ năm 2011, năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội, Thành uỷ xác định chủ đề hành động của năm 2011 là năm “Năm đô thị và bảo đảm an sinh xã hội”.

3. MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

- Tốc độ tăng trưởng GDP tăng từ 12% trở lên so với năm 2010, trong đó: nhóm ngành nông- lâm- thủy sản tăng 4,35- 4,38 %; nhóm ngành công nghiệp- xây dựng tăng 11,73 - 12,73%; nhóm ngành dịch vụ tăng 13,5- 14,5%.

- Cơ cấu kinh tế: nông-lâm-thuỷ sản, công nghiệp-xây dựng, dịch vụ: tương ứng: 9% - 37% - 54%.

- Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng 5,4 - 5,6%, trong đó, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 4,5 - 4,6%; giá trị sản xuất thủy sản tăng 8 - 8,5%;

- Chỉ số phát triển công nghiệp tăng 11 - 12%;

- Kim ngạch xuất khẩu tăng 16 - 17%; đạt 2.266,5 triệu đến 2.286 triệu USD.

- Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển đạt trên 35.000 tỷ đồng, tăng trên 8,8%;

- Sản lượng hàng hoá thông qua cảng đạt 38 triệu tấn, tăng 8,0%, trong đó cảng chính Hải Phòng đạt 16 triệu tấn;

- Thu ngân sách địa phương (thu nội địa) trên địa bàn 6.850 tỷ đồng, tăng 17,05% so với năm 2010;

- Thu hút khoảng 4,5 triệu lượt khách du lịch, tăng 7,14% so với năm 2010, trong đó khách quốc tế 900 nghìn lượt khách;

b) Các chỉ tiêu xã hội:

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ổn định ở mức dưới 1%, mức giảm sinh bình quân trong năm 0,2‰;

- Giải quyết việc làm cho 4,9 vạn lượt người lao động, tăng 4,25% so với năm 2010; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70%;

- Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới giảm trong năm từ 1,0 - 1,5%;

c) Các chỉ tiêu môi trường

- Tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 93%;

- Tỷ lệ chất thải đô thị được thu gom và xử lý hợp vệ sinh đạt trên 92 -93%.

4. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

4.1. Tập trung cao cho phát triển kinh tế, từng bước điều chỉnh cơ cấu kinh tế thành phố và trọng tâm là tái cấu trúc ngành công nghiệp để nâng cao chất lượng tăng trưởng, bảo đảm hiệu quả và phát triển bền vững. Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư, phát triển gắn với chủ động kiềm chế lạm phát nhằm đẩy nhanh sự phục hồi kinh tế thành phố

- Đẩy nhanh tốc độ phục hồi và phát triển công nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tăng hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Đẩy nhanh tiến độ thi công và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để sớm đưa vào hoạt động và nâng hiệu suất khai thác các dự án công nghiệp lớn. Tiếp tục hướng dẫn các doanh nghiệp đóng tàu thuộc Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam trên địa bàn thành phố tái cơ cấu theo chỉ đạo tại Kết luận 81-KL/TƯ của Bộ Chính trị và Quyết định số 926/QĐ-TTg của Chính phủ.

- Phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành dịch vụ, nhất là dịch vụ cảng biển, tài chính, ngân hàng, viễn thông, du lịch, dịch vụ tư vấn... Đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư phát triển hạ tầng du lịch như bến tàu khách, phương tiện vận tải khách, các khu vui chơi giải trí... Tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu, đẩy mạnh toàn diện và nâng cao hiệu quả hoạt động công tác đối ngoại và kinh tế đối ngoại; đồng thời chú trọng khai thác nhu cầu của thị trường nội địa. Tăng cường các biện pháp chống buôn lậu, gian lận thương mại để bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển. Mở rộng mạng lưới phân phối trên thị trường bán lẻ ở khu vực nông thôn, thực hiện các chính sách để khuyến khích tiêu dùng nội địa. Tuyên truyền, thực hiện tốt chủ trương, giải pháp, tạo sự chuyển biến rõ nét, hiệu quả thiết thực cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.

- Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khoá 10) về nông nghiệp, nông dân và nông thôn và các nghị quyết của Thành uỷ về phát triển nông nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn với triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới để triển khai thực hiện có hiệu quả Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020. Thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, thủy sản theo Nghị quyết của HĐND thành phố; tiếp tục cải thiện và từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần dân cư nông thôn; chú trọng công tác phòng, chống thiên tai, phòng ngừa, kiểm soát dịch bệnh trên gia súc, gia cầm.

- Khai thác mọi tiềm năng, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, nhất là nội lực để đầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế. Quan tâm tái cơ cấu nền kinh tế, trọng tâm là ngành công nghiệp, trong đó chú ý các vấn đề cơ cấu sản phẩm, thị trường, nguồn lực đầu tư, tái cơ cấu trong từng ngành, từng doanh nghiệp. Thực hiện nghiêm túc chủ trương lựa chọn các dự án vào Hải Phòng bảo đảm lựa chọn các dự án có nguồn thu lớn, sử dụng công nghệ cao- thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng và nguyên liệu, vật liệu…

- Tiếp tục tập trung cao sự chỉ đạo công tác giải phóng mặt bằng với các biện pháp đồng bộ, kiên quyết, tạo sự chuyển biến rõ nét, hiệu quả. Đẩy nhanh việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu kinh tế, các khu, cụm công nghiệp theo quy hoạch, trước mắt là Khu công nghiệp-đô thị Bắc sông Cấm, các Khu công nghiệp Nam Đình Vũ, Nam Tràng Cát, An Dương, Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải. Đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào các khu công nghiệp để tạo điều kiện thu hút nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước. Xây dựng quy chế phối hợp quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn. Tiếp tục thực hiện chương trình cải cách hành chính, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn đẩy mạnh sản xuất kinh doanh.

- Tiếp tục công tác sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp; quan tâm hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hợp tác xã, đẩy mạnh công tác khuyến công. Hỗ trợ đào tạo các doanh nghiệp nâng cao năng lực quản lý, khuyến khích áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng, quản lý môi trường tiên tiến, tiêu chuẩn hàng hóa, xây dựng thương hiệu phù hợp với Hội nhập kinh tế quốc tế.

- Thực hiện tốt Luật Ngân sách Nhà nước, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, vốn đầu tư. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất để tăng thu cho ngân sách, bảo đảm đủ nguồn cho nhu cầu chi; sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả ngân sách thành phố, kiên quyết chống thất thu, thất thoát. Đẩy nhanh việc giải ngân các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn ODA, có giải pháp quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn; tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy tiến độ triển khai các dự án đầu tư nước ngoài.

4.2. Đẩy mạnh phát triển đô thị; tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực quy hoạch và quản lý quy hoạch phát triển đô thị, quản lý và sử dụng đất đai, bất động sản, tài nguyên và môi trường

- Phối hợp tốt với các bộ, ngành Trung ương tiếp tục tổ chức triển khai có hiệu quả, bảo đảm tiến độ các công trình, dự án trọng điểm và chương trình, dự án ưu tiên giai đoạn đầu theo Quy hoạch chung xây dựng thành phố đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng phê duyệt. Trong đó quan tâm các dự án hạ tầng giao thông, như: đường ô tô cao tốc Hà Nội- Hải Phòng, cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng và cầu Đình Vũ- Cát Hải...

Trên cơ sở những nhận thức mới về đổi mới mô hình tăng trưởng của thành phố, điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Hải Phòng, quy hoạch phát triển không gian vùng duyên hải Bắc Bộ đã được phê duyệt, đẩy mạnh việc hoàn chỉnh các quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch mạng lưới và các công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật đô thị; quy hoạch xây dựng nông thôn mới; quy hoạch phân khu các khu chức năng một cách đồng bộ theo tiêu chí đô thị loại I.

Cải tạo, chỉnh trang nâng cấp đô thị cũ, tăng cường quản lý đất đai, trật tự đường hè, cải thiện tình trạng giao thông đô thị, chỉnh trang một bước dải trung tâm thành phố; tập trung đẩy nhanh tiến độ đầu tư các dự án khu đô thị mới, khu đô thị trọng điểm. Rà soát các dự án phát triển nhà, kiên quyết xử lý kịp thời các dự án không đủ năng lực triển khai theo quy định; phát triển mạnh quỹ nhà chung cư, nhà ở xã hội cho công nhân, sinh viên và người có thu nhập thấp. Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU của Thành uỷ (khoá 12) về phát triển và quản lý đô thị đến năm 2010, bàn chủ trương, định hướng trong giai đoạn tiếp theo.

Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản pháp quy về quản lý đất đai, làm cơ sở quản lý chặt chẽ nguồn lực đất đai gắn với thanh tra, kiểm tra và thu hồi đất do vi phạm theo Luật Đất đai. Khẩn trương xây dựng cơ chế, chính sách bảo đảm tính thống nhất, công khai, minh bạch, tạo điều kiện lành mạnh hoá và bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch bất động sản, thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động sản.

Tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội về bảo vệ môi trường. Triển khai tích cực, đồng bộ các giải pháp bảo vệ môi trường và tăng cường công tác quản lý môi trường. Xử lý kịp thời, kiên quyết, có hiệu quả các điểm nóng gây ô nhiễm môi trường. Huy động các nguồn lực để đầu tư dự án quản lý và xử lý chất thải rắn, dự án thoát nước mưa, nước thải; khẩn trương đầu tư hoàn chỉnh công trình xử lý nước thải tập trung tại các khu, cụm công nghiệp đã đưa vào hoạt động. Lồng ghép các mục tiêu phát triển bền vững trong công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, trong các chương trình, dự án đầu tư. Chủ động xây dựng các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu.

4.3. Thực hiện tốt các chương trình phát triển văn hóa-xã hội

Tiếp tục triển khai thực hiện nhiệm vụ năm học 2010-2011, coi trọng đẩy mạnh cuộc vận động “Hai không”. Duy trì và giữ vững kết quả phổ cập giáo dục bậc trung học và nghề ở các địa phương. Tăng cường đầu tư xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia; triển khai nghiêm túc Nghị quyết số 30-NQ/TU của Ban Thường vụ Thành uỷ về phát triển giáo dục mầm non; sơ kết, bổ khuyết thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TU của Ban Thường vụ Thành uỷ (khoá 13) “về một số chủ trương, giải pháp phát triển nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố đến năm 2010, định hướng 2020”.

Sơ kết, bổ khuyết thực hiện Nghị quyết số 16-NQ/TU của Ban Thường vụ Thành uỷ về phát triển văn hóa Hải Phòng. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về thông tin truyền thông; phát triển gắn với tăng cường quản lý dịch vụ Internet, nhà hàng, vũ trường. Phát triển thể dục thể thao theo hướng đầu tư cho cơ sở, đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao quần chúng gắn với nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa; chuẩn bị tốt lực lượng vận động viên tham gia các kỳ thi đấu thành tích cao ở trong và ngoài nước. Chú trọng triển khai các kế hoạch, chương trình phát triển du lịch, thu hút các nguồn vốn đầu tư phát triển hạ tầng du lịch; nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, nâg cao chất lượng du lịch lữ hành.

Tiếp tục nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Tăng cường huy động các nguồn lực xã hội phát triển sự nghiệp y tế, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân; tăng cường công tác y tế dự phòng, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; phòng, chống nghiện hút ma túy, lây nhiễm HIV, giải quyết tình trạng người lang thang ăn xin, quảng cáo không đúng quy định. Thực hiện tốt chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản, phấn đấu đạt chỉ tiêu giảm sinh 0,2 phần nghìn, có các giải pháp kiểm soát tình trạng mất cân bằng về giới tính.

Tăng cường công tác giải quyết việc làm, đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị và nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn. Cải thiện điều kiện làm việc, hạn chế tai nạn cho người lao động. Nâng cao nhận thức về trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của gia đình và cộng đồng. Thực hiện tốt các chính sách bảo đảm an sinh xã hội, quan tâm chăm lo đối tượng người có công với nước; thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói, giảm nghèo, về vệ sinh môi trường, chương trình nước sạch để cải thiện đời sống nhân dân. Chỉ đạo kiểm tra, rà soát và xử lý kiên quyết, dứt điểm những vi phạm trong việc thực hiện Luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật bảo hiểm y tế tại các doanh nghiệp; tăng cường công tác quản lý nhà nước trong việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế.

4.4. Tăng cường và giữ vững an ninh-quốc phòng

Tổ chức sơ kết 4 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TƯ ngày 14-10-2006 và Kết luận số 38-KL/TƯ ngày 2-2-2009 của Bộ Chính trị “về tăng cường công tác lãnh đạo bảo đảm an ninh quốc gia trong tình hình mới"; triển khai Kết luận số 86-KL/TƯ ngày 5-11-2010 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05- CT/TƯ; Chỉ thị số 48-CT/TƯ ngày 22-10-2010 của Bộ Chính trị “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới”; Luật Dân quân tự vệ; tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 56-CT/TƯ ngày 18-8-2000 của Bộ Chính trị “về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác của Hội Luật gia Việt Nam”; Chỉ thị 06-CT/2001/CT-TTg ngày 9-4-2001 của Thủ tướng Chính phủ “về việc thực hiện các biện pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu qủa hoạt động của Hội Luật gia Việt Nam”; Thông tri số 13-TT/TƯ, ngày 11-4-2002 của Thành ủy về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 56-CT/TW của Bộ Chính trị.

Lực lượng vũ trang thành phố thực hiện tốt chế độ thường trực sẵn sàng chiến đấu xây dựng lực lượng bộ đội theo hướng chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại. Chủ động phòng ngừa, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra đột xuất, bất ngờ; tập trung giải quyết dứt điểm những vụ việc nổi cộm, khiếu kiện kéo dài...

4.5. Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp, đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở

Lãnh đạo tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa 13 và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tập trung cao thực hiện giai đoạn 3 của Đề án 30 của Chính phủ về đơn giản hóa các thủ tục hành chính; mở rộng và nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế “một cửa” liên thông, hiện đại; đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan hành chính các cấp; tạo chuyển biến rõ nét về tinh thần trách nhiệm, đạo đức của đội ngũ công chức và chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa nền hành chính.

Đẩy mạnh công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; tập trung vào các lĩnh vực quản lý đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý phần vốn, tài sản của Nhà nước. Xử lý nghiêm minh, kịp thời các vụ việc sai phạm.

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn và Quy chế dân chủ ở cơ sở. Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng.

4.6. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng và vận động nhân dân

Tập trung cao công tác tuyên truyền, quán triệt, gắn với xây dựng và triển khai chương trình hành động thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, Đại hội 13 Đảng bộ thành phố và Đại hội 11 của Đảng. Tạo sự nhất trí cao trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội về các quan điểm, mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển đất nước, thành phố giai đoạn 2011-2015 và trong năm 2010. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả rõ nét.

Sơ kết và bổ khuyết đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TU của Ban Thường vụ Thành uỷ khóa 13 về củng cố, xây dựng và phát triển tổ chức đảng, đoàn thể trong các loại hình doanh nghiệp ngoài Nhà nước, các hợp tác xã, trường học ngoài công lập. Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 10-CT/TƯ của Ban Bí thư Trung ương Đảng về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, Nghị quyết Trung ương 6 khóa 10 về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác cán bộ; sơ kết, bổ khuyết thực hiện Đề án 100, Đề án đào tạo nguồn cán bộ các chức danh chủ chốt xã, phường, thị trấn. Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Xây dựng chương trình công tác kiểm tra toàn khóa và năm 2011 của cấp uỷ và Ủy ban kiểm tra các cấp bảo đảm đổi mới, rõ trọng tâm, trọng điểm, phục vụ đắc lực thực hiện nhiệm vụ chính trị. Xây dựng chương trình hành động thực hiện Chiến lược kiểm tra, giám sát của Đảng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua “Dân vận khéo”. Sơ kết và bổ khuyết đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TU của Ban Thường vụ Thành uỷ về đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân thành phố. Xây dựng chương trình công tác toàn khóa của cấp uỷ bảo đảm bao quát, toàn diện, đồng thời rõ các chương trình trọng tâm, gắn với tiếp tục triển khai có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 5 khóa 10 về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nhằm cụ thể hóa và lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội.

 Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tổ chức tốt việc tuyên truyền Nghị quyết Đại hội lần thứ 11 của Đảng, Nghị quyết Đại hội 14 Đảng bộ thành phố, nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, gắn với xây dựng và triển khai các chương trình thực hiện; tích cực vận động các tầng lớp nhân dân đẩy mạnh các cuộc vận động, phong trào thi đua; góp phần tích cực và hiệu quả vào việc hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2011 của thành phố./.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Căn cứ chức năng, nhiệm vụ theo quy định, Đảng đoàn HĐND thành phố, Ban Cán sự Đảng UBND thành phố triển khai thực hiện Nghị quyết này.

Căn cứ Nghị quyết của Thành uỷ, các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội phải chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, phù hợp và bảo đảm tính khả thi cao để triển khai thực hiện; đồng thời phân công nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng, nhất là đề cao trách nhiệm cá nhân của cán bộ chủ chốt và người đứng đầu cơ quan, đơn vị.

Tăng cường sự phối hợp đồng bộ, hiệu quả giữa các cấp, ngành, địa phương và đơn vị liên quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; phát động phong trào thi đua yêu nước, Ðảng bộ, quân và dân thành phố phấn đấu hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ, mục tiêu năm 2011, năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội 11 của Đảng và Nghị quyết Đại hội 14 Đảng bộ thành phố, tạo tiền đề quan trọng cho việc thực hiện thắng lợi Kế hoạch 5 năm 2011-2015./.  

 

T/M BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ

BÍ THƯ

  Nguyễn Văn Thuận

Ý kiến của bạn
Họ tên
Email
Tiêu đề
Nội dung